Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

NHỮNG ĐIỀU CẦN CÓ CỦA NHÀ BÁO KHI VIẾT BÀI ĐIỀU TRA

“Làm báo điều tra, chỉ cần thiếu tỉnh táo một chút, đôi khi nhà báo nhìn ở góc này là người hùng, ở góc kia lại là dạng bút máu” – Đức Hiển
– Phải có bản lĩnh nghề nghiệpNhà báo luôn đối mặt với những thách thức nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng cả tính mạng trong suốt quá trình thu thập tài liệu hoặc nguy cơ bị tấn công bởi các đối tượng có liên quan đến vụ việc nhà báo đang điều tra như trong lúc thu thập thông tin để chuẩn bị viết bài như bưng bít thông tin, ngăn chặn hoạt động tiếp cận thông tin của nhà báo bằng cách thuê xã hội đen đánh đập, giăng bẫy, vu khống, đe dọa, đập phá phương tiện tác nghiệp, khủng bố tinh thần nhằm tạo sức ép cho nhà báo dừng lại vụ việc điều tra. Đây là hoạt động nguy hiểm và phức tạp, đặc biệt là điều tra liên quan đến các đoàn thể, thách thức hơn cả là phóng viên chiến trường khi có nguy cơ bị bắt làm con tin, bị sát hại, hoặc bị giết, nguy cơ bị đe dọa đến sức khỏe khi tiếp cận các loại dịch bệnh nguy hiểm. Tuy nhiên,  nhiều bài điều tra vì thể loại này mà khẳng định được bản lĩnh của nhà báo, đòi hỏi yêu cầu rất cao của nhà báo, phải là chiến sĩ gan góc, không ngại đối mặt với thử thách và nguy hiểm, đặc biệt vượt qua sự sợ hãi để nói lên tiếng nói sự thật, làm tròn sứ mệnh của người làm báo.
Ví dụ: : «Những chi tiết chưa từng tiết lộ » vụ nhà báo bị bạo hành hung tại Vân Giang – Hưng Yên.
– Trung thực, kiên trì, cẩn trọng:
* Trung thực là yêu cầu về mặt phẩm chất của người làm báo. Điều tra là hành trình đi tìm sự thật, là yêu cầu gay gắt đặt ra cho nhà báo, không ngại va chạm, không sợ uy lực và trước sau hướng đến ánh sáng của sự thật. Nhà báo thiếu trung thực, bóp méo sự thật, che đậy thông tin là hành vi vô đạo đức mà nhà báo cần tránh nếu muốn làm nhà báo chân chính. Biểu hiện tinh thần trách nhiệm của nhà báo đối với công việc là dán mác hoạt động điều tra để thâm nhập thực tế, tìm hiểu, nghiên cứu thông tin độc lập, có nhận định riêng. Ghi lại kết quả điều tra của công an mà gọi là điều tra là thiếu trung thực, thiếu tôn trọng người đọc. Ngoài ra, tính trung thực còn thể hiện thái độ công bằng, khách quan của người viết đối với đối tượng điều tra. Đặt ra vấn đề này bởi trên thực tế, có không ít nhà báo vì thân tình hay tư thù mà không giữ được khách quan, làm cho cáng cân công bằng bị sai lệch. Nhà báo không nên có định kiến và thiên vị sự thật. Trung thực với lương tâm, trách nhiệm với ngòi bút, không bị vật chất, danh lợi chi phối. Làm điều tra là cái tâm phải sáng. Tính trung thực trong điều tra còn thể hiện ở cách biện luận của người viết để đi đến kết luận, nhà báo phải xuất phát từ những phân tích khoa học, các cứ liệu, số liệu chính xác, tin cậy với một thái độ từ tốn, bình tĩnh để thuyết phục người đọc.
*Kiên trì: Theo tờ Sự Thật Đoàn thanh niên Cộng Sản Nga : « Thể loại điều tra là một trong những thể loại phức tạp, phải xúc lên hàng ngàn tấn quặng mà không biết liệu có tìm được mẫu kim cương nào không”. Để đi đến cùng tháo gỡ những vụ việc phức tạp thì hành trang của nhà báo không chỉ có bản lĩnh mà còn có lóng kiên trì và nhẫn nại. Những nhà báo giỏi cũng là những người phải rèn luyện cho mình tính kiên trì, nhẫn nại lớn hơn ai hết. Đó cũng chính là bài học đầu tiên tuy nhỏ nhưng rất quan trọng về nghề báo, nhất là trong khi thực hiện bài điều tra. Trong những trường hợp cần phải điều tra trong thời gian dài, gặp nhiều cản trở, khó khăn khi tiếp cận với đối tượng thì sự nhẫn nại, lạc quan, đi đến cùng để tìm kiếm sự thật, trả lời những câu hỏi làm sáng tỏ những uẩn khúc của vấn đề, sự kiện cần được nhà báo phát huy cao độ. Những thông tin càng giá trị, có chiều sâu, bằng chứng càng thuyết phục thì càng đòi hỏi nhà báo phải chuẩn bị kĩ càng, triển khai chu đáo, tỉ mỉ và cần nhiều thời gian, công sức.“Hãy thách đố chính mình. Không có một công thức chung, một cây đũa thần nào cả ngoài sự kiên trì, bạn phải làm việc với tâm thế không phải là khoán việc cho mình mà coi việc có thông tin là sứ mệnh, là thiên chức của bạn” – Đức Hiển.
–         Cẩn trọng

a) Trong thu thập thông tin :


+Chính nhà báo gây ra nguy cơ mất an ninh cho mình khi đưa ra những thông tin thiếu chính xác. Nhà báo cần phải cẩn thận, tỉ mĩ trong từng thao tác, cẩn trọng trong thu thập thông tin. Một trong những nguyên tắc điều tra là sự kiện phải được tìm hiểu đa chiều, đa góc cạnh, thông tin phải được thu thập từ nhiều phía và phải cần có sự kiểm chứng trước khi công bố.
+ Điều tra thường sử dụng để làm rõ các hiện tượng tiêu cực, hành vi phạm tội, vấn đề khuất lấp mà đối tượng cố tình che giấu, nhiều bài sau khi công bố phải đối mặt với những phản ứng gay gắt từ đối tượng điều tra. Không ít trường hợp, sự sai lệch về thông tin đã kích thích kẻ phạm tội thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt đối với nhà báo hoặc kiện nhà báo ra tòa vì tội vu khống.

b) Cẩn trọng trong lưu giữ thông tin


+ Lộ thông tin là điều tối kỵ đối với nhà báo điều tra, thông tin là tài liệu mà các cá nhân, tập thể bị điểu tra đặc biệt quan tâm, tìm cách thủ tiêu. Việc săn tìm và tiêu hủy được đối tượng tìm bằng nhiều thủ đoạn.
+ Nếu thông tin bị rò rỉ ra ngoài thì sẽ bị đối tượng phạm tội cản trở điều tra.

c) Bị mất nguồn tin


+ Nhiều nhà báo đã đọc được nhiều nguồn tin có giá trị, xây dựng được những nguồn tin quan trọng, biết cách bảo vệ nguồn tin. Việc bảo vệ nguồn tin được xem như là nguyên tắc hoạt động của báo chí. Nếu không có nguồn tin thì làm sao có những loạt điều tra đình đám.
+Lưu ý không phải bao giờ, người báo cáo tiêu cực cũng được bảo vệ, người báo cáo thường bị đe dọa, đánh đập, gấy sức ép. Do đó, nhà báo phải giữ bí mật nguồn tin, đảm bảo vệ an toàn của người cung cấp thông tin. Đây cũng là cách để nhà báo độc quyền sở hữu những thông tin có giá trị. Nguồn tin bị lộ không chỉ ảnh hưởng đến người cung cấp thông tin mà cả nhà báo cũng bị gặp bất lợi, gây mất niềm tin, uy tín của người làm báo. Vì vậy, nhiều nhà báo dù bị truy bức đến cùng vẫn không để lộ nguồn tin.

Đạo đức nghề nghiệp:


“Làm báo điều tra, ngay cả khi bạn trong sáng thì bạn vẫn có thể bị lợi dụng. Đơn giản, tai nạn và sự giả trá của người này lắm khi là cơ hội của kẻ khác” – Đức Hiển.
Không làm ngơ trước cái xấu, cái ác: Chính vì phải đối mặt với nhiều nguy hiểm nên không ít trường hợp, nhà báo đã chọn cách “im lặng là thượng sách”. Đây là hiện tượng nhà báo đóng bút trước những hiện thực của cuộc sống. Không có quy định nào với nhà báo khi biết được những việc có hại cho xã hội thì phải đưa tin nhưng đây là một yếu tố đạo đức nghề nghiệp, thôi thúc nhà báo cầm bút, không làm ngơ trước cái xấu, cái tiêu cực.
* Tôn trọng sự thật, đảm bảo tính chính xác: Đây là một nguyên tắc quan trọng đối với báo chí nói chung và điều tra nói riêng. Nhà báo luôn phải đảm bảo những thông tin mình cung cấp là tuyệt đối chính xác, không được xuyên tạc sự thật nhằm mục đích quảng cáo, thương mại, sức ép về kinh tế, chính trị và lợi ích cá nhân. Thông tin phải được kiểm chứng và ghi rõ nguồn, chịu trách nhiệm hoàn toàn với những thông tin mình đăng tải.
* Đảm bảo tính công bằng, khách quan: Nhà báo cần trình bày thông tin ở những ngữ cảnh khác nhau, không được thiên vị, trong trường hợp có xung đột, phải lắng nghe các bên liên quan.
* Từ chối mọi hình thức mua chuộc của các đối tượng điều tra và những đối tượng có liên quan: Trong quá trình thực hiện, điều đầu tiên nhà báo phải nghĩ đến là lợi ích của người đọc và danh dự của nghề báo. Nhà báo chỉ chấp nhận những công việc phù hợp với phẩm giá của nghề và kiên quyết bảo vệ những giá trị cao cả của nghề báo.
* Bảo vệ nguồn tin và bí mật nghề nghiệp – nhìn từ góc độ đạo đức: Khi sử dụng thông tin thu thập được từ nguồn tin, nhà báo cần phải suy xét, cân nhắc, tính trước những hậu quả có thể xảy ra khi công bố thông tin vì nguồn tin rất có thể sẽ bị đe doạ khi tiết lộ danh tính,
* Tôn trọng sự riêng tư và phẩm giá con người: Mọi người đều có quyền được tôn trọng bí mật đời tư, nhà báo có nghĩa vụ phải tôn trọng những quyền đó, không được can thiệp và điều tra những thông tin mang tính riêng tư khi không có sự đồng ý của người đó.
* Tôn trọng nhân vật, đối tượng mà mình đang điều tra: Nhà báo cần phải chú ý khi đăng tải thông tin, hình ảnh, bằng chứng nhất là khi đối tượng được đề cập thuộc những đối tượng nhạy cảm như trẻ em, vị thành niên, phụ nữ, v.v. Khi đăng tải thông tin cần lường trước những hậu quả để lại trong tương lai đối với những đối tượng được nhắc đến trong tác phẩm, đôi khi sẽ để lại nhiều nguy hại. “Khi viết về một nhân vật, có lẽ cũng nên nhìn chung quanh họ xem còn có ai bị chết lên chết xuống vì bài báo của mình không. Nhìn, không phải để rồi do dự và không dám xung trận. Nhưng chắc chắn nếu nhìn kĩ, bạn sẽ biết cách xử lí thông tin và câu chữ như thế nào để hạn chế những tổn thất không đáng có” – Đức Hiển.

CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ LOẠI PHÓNG SỰ

Các đặc trưng của thể loại phóng sự bao gồm:

Tính thời sự:


Là những vấn đề nóng hổi, bức xúc nằm trong mạch thời sự chủ lưu đang được dư luận quan tâm. Khi đọc phóng sự, người đọc sẽ có cảm giác sát gần với cuộc sống, hít thở bầu không khí thời sự.
Tính thời sự là một yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt đối với phóng sự, là những ghi chép còn tươi rói chất liệu hiện thực, mới mẻ.
Là yếu tố định hình nên phong cách của người viết phóng sự: Năng động, nhanh nhạy trong nghe ngóng, dò tìm thông tin, công bố và chiếm lĩnh thông tin, đem lại hiệu quả cao nhất vào thời điểm lí tưởng nhất.
Trong phóng sự văn học và phóng sự báo chí, yêu cầu về tính thời sự không hoàn toàn giống nhau
Sự khác nhau giữa tin và phóng sự:

Tin là “hớt váng sự kiện”, thông báo vắn tắt diện mạo sự kiện qua hệ thống 5W + 1H.


Phóng sự là thể loại khai thác sự kiện một cách toàn vẹn trong quá trình phát sinh, phát triển của nó, đem lại cho người đọc cái nhìn toàn cảnh về sự kiện.


Tính xác thực:


Sự chính xác của phóng sự thể hiện qua những sự việc, chi tiết, địa chỉ, con số… đều là một phiên bản của cuộc sống.
Là tiêu chí để nhận diện thể loại phóng sự với một số thể loại khác (truyện ngắn, tiểu thuyết,..)
Đối với phóng sự, sự thật là một chất liệu nghệ thuật sáng giá, là thước đo giá trị của tác phẩm, nhân cách và danh dự của tác giả.
Yêu cầu người viết phóng sự phải nghiêm cẩn bảo vệ chân lí, không bịa đặt.

Bút pháp Thuật – Tả – Bình: 


Tả và Thuật: Là cụ thể hoá đối tượng.


Thuật: Trong sự kiện, tác giả làm người kể chuyện, kết nối tư liệu, tái hiện sự kiện.
Tả: Để sự dụng bút pháp hiệu quả, chọn cảnh nào, nhân vật vào để quay cận cảnh tuỳ theo kinh nghiệm của người viết để lột tả bản chất của sự kiện. Bút pháp tả luôn đồng hành với mạch sáng tạo, nhưng cũng không nên quên điểm xuất phát là từ hiện thực.
-> Tả và thuật là bút pháp chính của phóng sự.

Bình:


Với phóng sự, BÌNH là yếu tố mang tính trội quy định sắc diện thể loại. Tham gia bình bàn, thẩm định, đánh giá sự kiện.
Giới hạn yếu tố bình bàn là giới hạn mà nhà báo cần chú ý. (Bình đúng chỗ, có mức độ, nếu lập ngôn của người viết quá mức cho phép thì sẽ che khuất sự kiện, làm cho người đọc có cảm giác bị áp đặt, đôi khi làm cho họ nghi ngờ tính xác thực của thông tin.
Trong phóng sự, biết kết hợp bút pháp Tả – Thuật  – Bình sẽ tạo nên ưu thế, không chỉ thông tin sự kiện mà còn thông tin lí lẽ, đi sâu khám phá bản chất của sự kiện và trình bày nó thoả mãn nhận thức của người đọc.

Đậm chất văn học:


Có nhiều ý kiến phản đối cho rằng văn là hư cấu, ngược lại, cũng có ý kiến đồng tình, phóng sự cần phải có chất văn. Bởi vì, để chất liệu báo chí bớt khô khan, hấp dẫn, dễ đọc hơn, linh hoạt trong xử lí chi tiết. Văn là dưỡng chất kéo dài tuổi thọ của phóng sự, tùy vào từng thời kì lại có cách biểu hiện khác nhau:
– 1932 – 1945: Đa số nhà văn viết phóng sự  phóng sự đậm chất văn: kết cấu, nghệ thuật xây dựng cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu khai thác nghệ thuật từ tiểu thuyết vào phóng sự và giàu tính nhân văn
– Đương đại: Yêu cầu khác, vì thời gian không nhiều và để đáp ứng nhu cầu của độc giả nên chất văn nhạt dần.

Cách thức sử dụng ngôn ngữ: Đảm bảo yêu cầu của ngôn ngữ báo chí, vươn tới tính biểu đạt của nghệ thuật văn chương.


Với sự cộng hợp này, phóng sự có khả năng biểu đạt con người và cuộc sống một cách chân thực, sinh động: Vừa gợi hình ảnh, liên tưởng và đạt đến sự chuẩn xác không thay thế được.


Sử dụng biện pháp tu từ trong trình bày phóng sự giúp tác phẩm mang nét đẹp của văn học vừa tăng tính nội hàm của tác phẩm.


Nghệ thuật sử dụng chất liệu văn học: Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong diễn đạt làm cho thông tin mềm mại.


Chỉ được hư cấu ở những miền không xác định (biểu cảm nhân vật, cảnh sắc thiên nhiên,v.v.). Hư cấu trong phóng sự không phải là thêm thắt tưởng tượng vô căn cứ, mà trong phóng sự, trường tư duy của người viết phái gắn liền với hiện thực.


Cũng như tả và bình, chất văn trong phóng sự cũng phải có chừng mực, không được lạm dụng văn chương để múa bút trong phóng sự. Theo Huỳnh Dũng Nhân, chất văn nên nếm vào phóng sự cũng giống như muối nêm vào canh, cái mặn của văn học sẽ tạo nên vị ngọt của phóng sự nhưng cũng có thể làm hóng nồi canh nếu nêm quá tay.
-> Tóm lại, phóng sự là thể loại nằm ở miền giao thoa giữa báo chí và văn học.

THỂ LOẠI ĐIỀU TRA BÁO CHÍ - NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

(Nhà báo Thu An-Ủy viên BBT, Nguyên Trưởng Ban Chính trị - Xã hội báo Tuổi Trẻ)
* Điều tra là một trong những thể loại báo chíluôn tạo sự quan tâm và thu hút người đọc. Nếu tin thu hút người đọc bởi độ nóng, nhanh của thông tin, sự kiện mới, thì điều tra hấp dẫn người đọc bởi sự thật của vấn đề được tìm ra và tính ly kỳ của quá trình tác nghiệp biểu lộ qua tác phẩm.
* Điều tra đến nay vẫn là một trong những thể loại khó của báo chí và về kỹ thuật, trình độ tác nghiệp. Nó đòi hỏi có sự tổng hợp của những thể loại khác.
* Khác với tin tức, điều tra luôn là đề tài riêng của tác giả, của tờ báo
I- Điều tra là gì?
1/ Khái niệm:
- Điều tra nghĩa gốc theo từ điển tiếng Việt là tìm hiểu, xem xét để biết rõ sự thật 
- Trung tâm Báo chí Điều tra (CIR- Mỹ) miêu tả: báo chí điều tra là theo đuổi các câu chuyện bị che giấu về những cá nhân và những tổ chức có ảnh hưởng đến cuộc sống cộng đồng. “Đây là những câu chuyện khó khăn: khó để ráp nối và khó nói ra.
=> Có thể hiểu: báo chí điều tra là một thể loại mà bằng các nghiệp vụ điều tra báo chí người viết tìm hiểu xem xét, làm sáng tỏ các sự thật bị che giấu và chứng minh sự thật đó bằng các chứng cứ thuyết phục.
- Nghiệp vụ điều tra báo chí khác các nghiệp vụ điều tra khác của các cơ quan chức năng (công an, thanh tra, kiểm sát, tòa án…).
- Điều tra bao hàm việc tìm ra sự thật của một vấn đề tốt cần bảo vệ và vấn đề tiêu cực để đấu tranh, loại bỏ. Lâu nay các đề tài điều tra trong báo chí thường thiên về chống tiêu cực.
2/ Đặc điểm: 
- Tính chính xác, trung thực, dựa trên sự thật:chứng minh bằng chứng cứ.Một  số khảo sát cho thấy độc giả mong muốn và kỳ vọng báo chí cung cấp cho họ các phóng sự điều tra chặt chẽ, có sức thuyết phục hơn là cách dẫn “ anh ấy nói…”, “cô ấy cho biết…”
- Tình phức tạp, đòi hỏi cao: kiến thức, kỹ năng…Những câu chuyện tranh cãi, không chặt chẽ có thể dẫn tới các vụ kiện.  Những khó khăn thường gặp: làm việc cá nhân hoặc theo những nhóm nhỏ, thường bị áp lực tâm lý, không có cơ chế bảo vệ, đôi khi đối mặt với đe dọa bạo lực + phát sinh “kẻ thù địch”. Tuy nhiên nếu thành công, đây là thể loại nâng cao uy tín cho tờ báo.
- Phạm vi điều tra: có thể trong phạm vi một địa phương, một đất nước, xuyên biên giới.
- Thời gian: Thường phải mất nhiều tháng nghiên cứu và hàng trăm cuộc phỏng vấn, lần theo các mối dẫn dắt, kiểm tra nguồn tin, và cuối cùng là viết ra một câu chuyện”.
- Chi phí: Báo chí điều tra có thể tốn kém và nguy hiểm, mất nhiều thời gian để tổ chức, thẩm định, ráp nối, chỉnh sửa. 
- Theo tài liệu của CIR, phóng sự điều tra là: 
+ Viết ra một câu chuyện mà có thể sẽ không được tiết lộ nếu không có sự dũng cảm của PV; 
+ Cung cấp cho người đọc một câu chuyện tầm quan trọng đối với công chúng đã được ráp nối từ các nguồn tin đa dạng và thường được giấu kín 
+ Tiết lộ một câu chuyện có thể trái với các thông báo của chính quyền hoặc tổ chức của những người có thể đã cố gắng che giấu hoặc bóp méo sự thật
+ Kết quả trong một câu chuyện thường được thể hiện rõ ràng trong một tờ báo hoặc dẫn đầu trong một bản tin truyền hình ( trình bày trang 1, vị trí vơ-đét...) => Dấu hiệu nhận biết một phóng sự điều tra trên báo đài.
- Phương pháp tiếp cận: 5 chữ W (what, why, who, where, when, how) thường áp dụng cho viết tin. Trong điều tra thì sẽ áp dụng sâu hơn. Đây là công việc của PV tìm cách trả lời những câu hỏi đó để đi tìm những sự thật bị che giấu.
=> Người viếtcần lòng đam mê, sự dấn thân, dũng cảm, hiểu biết pháp luật, kiên nhẫn, một sự hoài nghi, một sự nhạy cảm, cảm nhận rõ nét những bất công, bất hợp lý, sai trái cần phải làm rõ và cần phải có kiến thức sâu, rộng, kỹ năng điều tra và thể hiện tốt.
=> Thường nó là sản phẩm của nỗ lực cá nhân nhưng là thành quả tập thể (các nguồn tin, đồng nghiệp, trưởng ban, biên tập viên, bộ máy tòa soạn, ban biên tập …). Trong một số trường hợp nó là lao động thể, thành quả tập thể (các nhóm điều tra). 
=> Điều tra báo chí là khoa học trong nghệ thuật. Vì đòi hỏi bằng chứng bằng thực nghiệm, bằng chứng cứ, điễn đạt chính xác nhưng hấp dẫn, lôi cuốn…
3/ Đề tài phóng sự điều tra: 
- Thuộc nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực. Thường đi tìm ra sự thật về việc làm sai trái, tiêu cực, tham nhũng của của quan chức; xem xét một doanh nghiệp đã gây thiệt hại đến công chúng do hành vi phi đạo đức hoặc hành động sai trái; những tiêu cực, sai trái trong xã hội; những sự thật bị che giấu vì lợi ích của một người, một nhóm người ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người khác. Tuy nhiên phải có chọn lọc về tính chất, mức độ cần thiết đưa lên (ví dụ: một vụ ăn cắp của công vài trăm ngàn đồng không nhất thiết làm điều tra)=> tính vì lợi ích cộng đồng trong các đề tài điều tra.
-  Về việc phân loại đề tài điều tra, hiện chưa tìm thấy tài liệu chính qui về phân loại chi tiết các đề tài trong thể loại điều tra. Theo kinh nghiệm tác nghiệp, có nhiều cách phân loại đề tài điều tra, mỗi cách phân loại đều mang tính tương đối và mỗi người có thể có cách phân loại cho riêng mình. Ví dụ, theo nội dung, tính chất sự kiện như: Tham nhũng, tiêu cực:  điện kế điện tử, mãi lộ, chung chi ở Hải quan, rút ruột bảo hiểm, ăn chặn tiền cứu trợ (sai trái của quan chức, công chức). Những vấn đề liên quan sức khỏe người dân, quyền lợi người tiêu dùng: sữa quá date, kinh doanh thuốc tây giả, mũ bảo hiểm kém chất lượng, cho chất cấm vào thực phẩm chăn nuôi. ..Những vấn đề liên quan đến môi trường: xả thải không qua xử lý...
Hoặc phân loại theo tính chất tác nghiệp, như đề tài tác nghiệp chủ yếu bằng việc tìm chứng cứ trực tiếp ở hiện trường: mãi lộ, kiểm lâm, trẻ em bị chăn dắt; qua tài liệu, hồ sơ: tiêu cực trong đấu thầu thuốc, giá thuốc; đề tài tác nghiệp bằng các biện pháp nghiệp vụ tổng hợp (bao gồm làm chứng cứ tại hiện trường, thông qua chứng cứ, truy vấn người trong cuộc, làm các thực nghiệm…) như đề tài điện kế điện tử… 
4/ Tác dụng, kết quả, hậu quả của bài điều tra:
- Phục vụ lợi ích cộng đồng bằng cách cung cấp, phơi bày rõ ràng, minh bạch những điều mà trước đây họ chưa biết (một dự án giải tỏa đền bù có đất tái định cư đủ nhưng người dân không được bố trí đủ…). Chống lại những người làm tổn hại đến cộng đồng
- Thường mang lại những cải cách để ngăn chặn sự tái phát của một việc làm hoặc một hoạt động sai trái cụ thể. Làm cho truyền thông trở thành một bộ phận chiến đấu vì lợi ích chung.=> thay đổi chính sách, thay đổi cách quản lý, thay đổi việc sử dụng con người…
- Có thể dẫn đến việc xử lý, truy cứu những người làm sai (xử lý CSGT mãi lộ, nhân viên hải quan đòi chung chi, cán bộ thâm lạm công qũi, thu hồi lại tài sản công).
Gia tăng lòng tin của độc giả; nâng cao uy tín của tác giả, tờ báo.
- Tích lũy thêm kinh nghiệm, tạo thêm động lực cho người viết và tờ báo.
II- Thực hiện một đề tài điều tra
1/ Tìm đề tài:
- Từ thực tế tác nghiệp của PV: quan sát, tiếp cận thực tế
- Từ nguồn tin (riêng, cơ quan chức năng, cơ quan nội chính, từ các phe phái đối lập…).
- Từ sếp
- Từ các phương tiện thông tin
- Từ thông tin bạn đọc…
- Bảo mật đề tài
2/ Các bước làm điều tra: 
- Kiến thức, sự hiểu biết, nhạy cảm, bức xúc về vấn đề đó => tiền đề=>hệ thống lại xem mình đã biết gì về vấn đề đó, biết tới đâu. Kiểm tra tư liệu liên quan: đề tài chưa từng ai khai thác, đã khai thác, cần khai thác góc cạnh nào…
- Thời điểm thực hiện và đưa ra một bài, loạt bài điều tra
- Danh mục công việc cần thực hiện:
+ Các bước, các biện pháp tiếp cận vấn đề; thời gian, địa điểm
+ Các hồ sơ, chứng cứ cần thu thập
+ Phim, ảnh cần thực hiện
+ Nhân vật, cơ quan, tổ chức cần gặp gỡ, phỏng vấn
+ Phương tiện tác nghiệp
+ Phương án phối hợp (đồng nghiệp, nguồn tin, người hướng dẫn, cơ quan chức năng…)
+ Đặt ra các câu hỏi cần trả lời cho quá trình đi tìm sự thật
=> Ví dụ
- Thâm nhập thực tế, tìm chứng cứ, căn cứ chứng minh vấn đề cần điều tra.
+ Nhập vai: Tùy tình huống, đóng phải đạt. Điều quan trọng hàng đầu là nhập vai bằng cách nào thì cũng không được vi phạm pháp luật. 
+ Lấy tài liệu từ văn bản (tài liệu công khai, tài liệu được che giấu…) -> Tài liệu bằng văn bản quan trọng nhất, cho chứng cứ xác thực nhất, không thể tranh cãi nhưng lưu ý yếu tố thời gian,tính minh bạch, tài liệu mật, tài liệu đưa ra từ các mâu thuẫn nội bộ…
+ Gặp trực tiếp người trong cuộc (ghi âm, ghi hình làm bằng chứng),gặp người cung cấp, người nắm vấn đề.-> Quay phim, chụp ảnh là không phải là chứng cứ duy nhất và trong nhiều trường hợp không được xem là chứng cứ.
+ Phỏng vấn, truy vấn những người liên quan( ghi âm mọi cuộc phỏng vấn- ghi âm cũng không phải là chứng cứ duy nhất,cẩn trọng khi ghi âm đó do người khác cung cấp, có thể bị can thiệp sửa đổi)nắm chắc vấn đề, chuẩn bị kỹ câu hỏi, hỏi những vấn đề then chốt để họ thừa nhận sai phạm, tìm ra sự thật
+ Làm các thực nghiệm: kiểm định chất lượng sản phẩm (mũ bảo hiểm, cháo dinh dưỡng…)
+ So sánh các sự kiện, tài liệu, chứng cứ, ý kiến khác nhau của câu chuyện => Phân tích chứng cứ, số liệu ; kiểm tra chứng cứ; kiểm chứng thông tin càng nhiều chiều, càng chặt chẽ, càng đưa ra nhiều câu hỏi phản biện càng tốt.
=> Quá trình làm điều tra (kể cả mục đích thu thập chứng cứ, phỏng vấn…) không được để lộ ra mình đang điều tra về vấn đề đó để tránh bị bưng bít, che dấu sự thật, bị đối phó, can thiệp…
Hệ thống lại toàn bộ vấn đề để chắn chắc rằng đã tìm ra và chứng minh được sự thật bị che giấu một các chính xác, khách quan, trung thực, chặt chẽ và thuyết phục=> Nếu chưa phải tiếp tục đi tìm (làm lại sẽ khó khăn hơn 
Trao đổi thông tin trong nhóm thực hiện và với người phụ trách để cùng kiểm chứng thông tin, nghe phản biện và thống nhất cách đặt vấn đề, đề cương bài viết.
- Viết bài (thường không viết hết toàn bộ những gì mình có hoặc chưa cần thiết), đọc lại bài, kiểm tra lại chứng cứ trước khi nộp bài
Biên tập, kiểm tra chứng cứ khi biên tập.
Theo tiếp diễn biến, tác dụng, phản ứng, việc xử lý những người liên quan sau khi bài báo đăng => có thể tiếp tục thông tin hoặc làm các điều tra tiếp theo.
Đối mặt với các khiếu nại, can thiệp, đề nghị cung cấp nguồn tin, chứng cứ.
* Những lưu ý trong tác nghiệp và thu thập chứng cứ:
Tính chính xác trong bài điều tra là yếu tố hàng đầu, nếu không sẽ đối diện với các khiến kiện và độc giả mất lòng tin, tác giả, tờ báo mất uy tín. Các sai sót có thể làm hại đến cả nguồn tin và độc giả
- Lưu ý không sử dụng nguồn tin duy nhất, cần quan tâm sử dụng thông tin từ cả hai phía và đặc biệt các nguồn tin trung gian. (VD: nguồn tin từ phía tố cáo, từ phía bị tố cáo, từ cơ quan thanh tra, từ UBND phường, cán bộ cũ) => Các nhân chứng có thể nói dối, nói thêm, nói theo chủ quan hoặc chỉ là không nhớ chính xác.
- Phải phối hợp nhiều nguồn tin, thông tin, chứng cứ khác nhau liên quan đến vấn đề để đi tìm tận cùng sự thật. Phải phối kiểm, kiểm chứng thông tin để biết chắc rằng đó là sự thật. - Điều tra bằng hồ sơ của cơ quan công an, thanh tra –> Hiện nay không còn lập lờ chuyện này
- Lưu ý nguồn tin do mâu thuẫn, động cơ cung cấp thông tin, coi chừng bị lợi dụng (các DN cạnh tranh không lành mạnh cung cấp thông tin lẫn nhau nhưng là thông tin bị cắt khúc, bị che dấu, sai lệch,có ý định…)= > Trở lại những lưu ý trên.
- Lưu ý những sự thật bị đứt gãy: sự thật… sự thật…sự thật = không phải sự thật => sự thật đứt gãy làm sai bản chất vấn đề. VD  Một căn nhà chứa 10 trẻ em đi ăn xin. Tất cả những người cư ngụ chung quanh đều khẳng định các em sống chung với hai vợ chồng chủ nhà, hai vợ chồng chủ nhà này không có việc làm, những đứa trẻ thường có thương tích trên người do bị đánh đập=> hai vợ chồng chủ nhà là người chăn dắt, ngược đãi các trẻ ăn xin (có những khoảng đứt gãy không nắm được: có một người khác thỏa thuận với vợ chồng chủ nhà thuê nhà cho 10 trẻ ăn xin ở, các em thường bị đánh đập ở một địa điểm tập kết trước khi ăn xin). Nếu ghép nối các sự thật bị đứt gãy này vào thì vợ chồng chủ nhà không phải là người ngược đãi các em.=> Thu thập tài liệu, chứng cứ càng nhiều càng tốt.
- Tính cân bằng và khách quan:Không chủ quan, suy diễn, mặc định ngay từ đầu. Đáng lo ngại hơn là muốn sự thật theo ý mình và không chấp nhận bẻ cong sự thật.
Phải luôn luôn tìm liếm thêm chứng lý, thông tin nhiều chiều để chứng minh sự thật. Phải lắng nghe các bên, các bên đều được cơ hội nói. VD1: “Hải quan phát hiện một triệu USD trong vali của một quan chức”=> “quan chức này đã lấy cắp 1triệu USD” hoặc “nhiều khả năng đây là tiền hối lộ” hoặc “ Phát hiện một số tiền tham nhũng cực kỳ lớn?” => Không đặt nghị vấn mà phải làm rõ sự thật và chỉ được công bố sự thật tránh gây oan sai về mặt dư luận. Trong trường hợp cần làm rõ phải gặp cả hai phía, hoặc chứng cứ phải rõ ràng, xác thực.VD2: mặc định từ đầu CSGT là mãi lộ nên thấy một CSGT chặn một lái xe kiểm tra giấy tờ, thấy chủ xe đưa xấp giấy tờ thì cho rằng đó là hành vi CSGT nhận tiền mãi lộ, chứng minh theo hướng tiền được kẹp trong xấp giấy tờ và viết theo hướng này, nhưng thực tế là CSGT chỉ xét xe theo qui trình bình thường. Chỉ khi chứng cứ cho thấy rõ ràng đó là tiền, là hành vi đòi hối lộ thì mới chắc chắn.  
- Sử dụng tài liệu, tư liệu, inernet – tính chịu trách nhiệm về sự thật mà mình muốn chứng minh.- An toàn, an ninh trong điều tra; Tai nạn nghề nghiệp (trừ lỗi cố ý)+ Bị phát hiện, bị tấn công, bị áp lực, đe dọa+ Bị mua chuộc+ Bị mất chứng cứ, tài liệu bị đánh tráo.+ Nhầm lẫn, thiếu thông tin dẫn đến sai, nắm sai bản chất vấn đề…=> khiếu kiện, đính chính.
+ Nhầm lẫn khi thể hiện, bị biên tập sai…
=> Một phóng viên điều tra cần đắm mình trong các tài liệu và chứng cứ+ kiến thức đủ để lý giải hoặc hỏi người khác+ khách quan+đạo đức nghề nghiệp.
Thường thiếu cơ chế bảo vệ PV => Nếu xác định quá nguy hiểm thìphải thảo luận, cân nhắc kỹ trước khi thực hiện
3/ Cấu trúc một bài, loạt bài điều tra.
Thông thường từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ đến nặng, theo trình tự sự kiện. Nếu là loạt bài phải tính kỹ bố cục bài nào trước bài nào sau, thường bài sau phải nặng đô hơn bài trước. Cách khác là chọn sự kiện hấp dẫn nhất để mở đầu và lý giải theo cách mở nút thắt, đưa các dẫn chứng làm sáng tỏ dần vấn đề.
- Tư duy tít tựa, làm chapeau, phần dẫn nhập, các sutit, bố cục nội dung - chú ý tính logic, kết cấu chặt chẽ và thuyết phục (có hai loại kết cấu vòng và nối tiếp), tính hấp dẫn của vấn đề (tựa ngắn, dùng động từ=> tựa mạnh, trực tiếp. Hạn chế tối đa dấu cảm thán, nhất là dấu hỏi). Chú ý tính logic, chặt chẽ không tham quá nhiều tình tiết chi tiết làm rối bài viết mà chỉ chọn những chi tiết thật đắt giá. Nên có các box- có tít tạo điểm nhấn cho người đọc. Ví dụ
Lưu ý trong thể hiện, không bình luận, suy diễn, phóng đại, từ ngữ phải chính xác, rõ nghĩa. Không “rướn”: chất liệu ít, thể hiện thổi phồng thêm. Thể hiện chủ yếu bằng sự kiện, chứng cứ chứ không phải bằng thái độ, từ ngữ, nhận định, bình luận.
- Hạn chế dùng tiếng lóng, tiếng địa phương nhưng biết dùng trong những tình huống đắt giá không lạm dụng (CSGT mãi lộ chửi thề)
III-Vấn đề pháp lý và Đạo đức nghề nghiệp trong tác nghiệp và thu thập chứng cứ:
=- Lưu ý Qui định pháp luật về nguồn tin, qui chế phát ngôn, sử dụng nguồn tin, tài liệu mật(Đề cương sinh hoạt nghiệp vụ lĩnh )vực nội chính TT (*). Vấn đề xâm phạm đời tư cá nhân. Làm những điều pháp luật cấm.
-Bài viết phải bảo đảm khách quan, trung thực, không gây oan sai cho người khác.=> sai phải cải chính đúng luật. Khi đối mặt với một tình huống có thể gây hại cho người khác, nhà báo cần hành động theo đạo đức: đóng góp vì xã hội  tốt đẹp, bảo đảm sự ổn định và an ninh cần thiết cho cuộc sống con người; là công dân tốt và hành động có trách nhiệm; công bằng.
Không tiết lộ thông tin, nguồn tin, chứng cứ; bảo vệ chứng cứ, nhân chứng; bảo mật tài liệu.(vừa đạo đức vừa luật pháp). Theo luật báo chí – chỉ Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có thẩm quyền yêu cầu tiết lộ nguồn tin riêng. Tuy nhiên hiện nay theo bộ luật tố tụng hình sự, cơ quan điều tra được yêu cầu cung cấp chứng cứ khi xem tin bài trên báo là nguồn tố giác tội phạm (sẽ có nội dung trao đổi riêng về vấn đề này cùng với luật sư).  
Cân nhắc khả năng có thể ảnh hưởng, nguy hiểm tới người cung cấp thông tin, nhân chứng, người cộng tác (phải nhận lãnh trách nhiệm thay, đối diện án tòa…)
Cân nhắc, chặt chẽ , khách quan, cân bằng khi đặt vấn đề liên quan đến nhân thân, thương hiệu => không lôi kéo người thân của người sai phạm vào nếu họ vô can (con ông chủ tịch tỉnh gây tai nạn, vợ ông giám đốc A đi buôn lậu =nếu là vợ một công an: phải chứng minh người đó biết, hoặc không biết là đáng phê phán=> cẩn trọng, gặp các phía".

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng, nhưng cũng cần nghiêm khắc đối với các hành vi cố ý vi phạm. Tác giả đưa ra kinh nghiệm một số nước và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện chế định về hợp đồng trong pháp luật dân sự và thương mại ở nước ta.
Theo nguyên tắc chung, khi một bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm trước phía bên kia. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm (trường hợp bất khả kháng; do lỗi của người có quyền; do có sự thoả thuận của các bên về trường hợp miễn trách nhiệm).
Xây dựng hệ thống các quy định pháp luật phù hợp để giám sát có hiệu quả các thoả thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm là một trong những vấn đề cơ bản để hoàn thiện pháp luật hợp đồng, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang sửa đổi Bộ luật dân sự 1995 và Luật thương mại 1997.
1. Quy định của pháp luật nước ngoài.
Theo pháp luật của Anh, khi xem xét giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, tòa án phải phân tích sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, cũng như căn cứ vào sự thể hiện ý chí và các hành vi khác của các bên dẫn đến việc ký kết hợp đồng, để xác định ý chí của các bên khi xác lập quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Điều này khẳng định sự cần thiết đánh giá về mặt pháp lý, những thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, trong tổng thể toàn bộ hợp đồng mà không phải từng điều khoản riêng biệt. Những thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm của người bán do giao hàng có khuyết tật, ẩn trong hợp đồng mua bán hàng hoá, không thể vô hiệu hóa điều kiện cơ bản do luật định về công dụng của hàng hóa cho một mục đích nhất định. Thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại gián tiếp sẽ không liên quan đến những thiệt hại là hậu quả đương nhiên của sự vi phạm, mà chỉ liên quan đến những thiệt hại không có mối liên hệ mật thiết đến sự vi phạm hợp đồng [1].
Chúng tôi cho rằng, pháp luật của Anh không công nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm, nếu các thỏa thuận đó liên quan đến sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Năm 1997, Nghị viện Anh thông qua Luật về các điều khoản không trung thực trong hợp đồng. Luật này được quy định nhằm mục đích hạn chế, hay trong một số trường hợp, loại bỏ khả năng dẫn đến các thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng [2].
Pháp luật của Hoa Kỳ, những thỏa thuận này không những hạn chế trách nhiệm bên vi phạm, mà còn hạn chế bên có quyền sử dụng các biện pháp bảo vệ pháp lý. Trong thực tiễn thương mại thường gặp các thỏa thuận người bán được miễn trừ trách nhiệm bồi thường những thiệt hại gián tiếp. Trong pháp luật của Hoa Kỳ, tiêu chí cơ bản và chủ yếu được áp dụng để đánh giá về mặt pháp lý các thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm là quy tắc “tính bất hợp lý” của chúng. Quy tắc này có ý nghĩa không chỉ với hiệu lực của các thỏa thuận nói trên, mà còn đối với toàn bộ hay bất kỳ một bộ phận nào của hợp đồng [3]. “Tính bất hợp lý” được coi là việc một trong các bên không có bất kỳ sự lựa chọn nào, và kết hợp với các điều kiện của hợp đồng, trong một chừng mực “bất hợp lý” làm cản trở phía bên kia thực hiện quyền của mình. Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ đặc biệt chú ý đến trường hợp, khi quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại gián tiếp của người có quyền bị hạn chế hay bị loại trừ bởi các thỏa thuận trong hợp đồng. Các thỏa thuận này chỉ có giá trị pháp lý trong trường hợp chúng có căn cứ. Tình huống thường xảy ra trong thực tế khi sự thỏa thuận của các bên nhằm hạn chế bồi thường thiệt hại gián tiếp do việc bán hàng tiêu dùng gây thiệt hại về thân thể, theo pháp luật Hoa Kỳ, thì những thỏa thuận này được coi là không có căn cứ.
Pháp luật của Pháp, trong thời gian dài, không công nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, và tất nhiên, không có sự điều chỉnh chúng. Cơ sở của việc không công nhận xuất phát từ quan điểm cho rằng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng được xác định trên cơ sở lỗi không thể được miễn trừ, bởi vì, nếu ngược lại thì sẽ mâu thuẫn với bản chất của nghĩa vụ hợp đồng. Trong Bộ luật dân sự của Pháp không có một quy định nào điều chỉnh thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi các thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm trong quan hệ dân sự, trong hoạt động thương mại, dẫn đến sự cần thiết phải giải quyết vấn đề về hậu quả pháp lý của các thỏa thuận đó. Năm 1959, Toà thượng thẩm quy định rằng, các thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm được coi là có giá trị pháp lý, nếu chúng không miễn trừ trách nhiệm do lỗi cố ý hay vô ý nhiêm trọng. Điều này có nghĩa là, nếu sự vi phạm hợp đồng là cố ý thì thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm sẽ không có giá trị pháp lý [4]. Hiện nay, nguyên tắc này được Cộng hoà Pháp lấy làm nền tảng để xây dựng cách tiếp cận của pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Ngoài cách tiếp cận chung đối với các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm nói trên, thực tiễn xét xử của Pháp không cho phép việc hạn chế trách nhiệm bồi thường do gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.
Pháp luật của CHLB Đức: Điều 276 Bộ luật dân sự Đức quy định, bên vi phạm không thể được miễn trừ trách nhiệm trong tương lai, nÕu cè ý vi ph¹m hîp ®ång. Quy định này có nghĩa là các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, nếu liên quan đến trách nhiệm do vi phạm cố ý thì không có giá trị pháp lý. Theo quy định của Điều 476 Bộ luật dân sự Đức, các thỏa thuận trên bị coi là không có giá trị pháp lý, nếu người bán cố tình im lặng, không thông báo cho người mua biết những khuyết tật của hàng hoá mà người bán đã biết trước. Sự phát triển của pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm, đồng thời với việc tăng cường giám sát về mặt pháp lý, nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng [5].
Pháp luật của CHLB Nga: đối với hiệu lực pháp luật của các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tương tự pháp luật của Cộng hòa Pháp và CHLB Đức. Khoản 4 Điều 401 Bộ luật dân sự quy định, các thỏa thuận trước về hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ một cách cố ý được coi là không có giá trị pháp lý.
Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, không trực tiếp điều chỉnh thỏa thuận của các bên về miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, Điều 40, khoản 2 Điều 43 quy định, thỏa thuận của các bên về việc người bán không phải chịu trách nhiệm do chất lượng của hàng hóa không phù hợp với hợp đồng nếu người mua không tuân thủ thời hạn thông báo, do các bên thỏa thuận hay do Công ước quy định, sẽ không có giá trị pháp lý nếu sự không phù hợp của hàng hóa với điều kiện của hợp đồng liên quan đến các yếu tố mà người bán đã biết hay buộc phải biết nhưng không thông báo cho người mua.
2. Quy định trong pháp luật nước ta
Quy định tại khoản 1, Điều 77 Luật Thương mại thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên trong việc ký hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, trong thực tiễn giao dịch dân sự và thương mại có thể xảy ra trường hợp, một bên nào đó (thông thường là bên mạnh hơn về mặt kinh tế và có kinh nghiệm hơn trong hoạt động thương mại) lợi dụng sự tồn tại của các thỏa thuận về hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm để cố ý vi phạm hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. (Xem ví dụ 1 và 2)

Hộp 1 - Bộ luật dân sự năm 1995 không có quy định điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm.
- Khoản 1, điều 77 Luật thương mại (1997) quy định: “các bên được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm đó”.

Hộp 2 Ví dụ 1: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa người bán A và  người mua B, các bên thoả thuận thời điểm giao hàng là 1/1/2004. Cũng trong hợp đồng, các bên thỏa thuận một điều khoản cho phép bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm trước người mua nếu việc giao hàng chậm không quá 15 ngày, (trước ngày 16/10). Ngày 30/9 người bán A chuẩn bị đủ hàng để giao cho người mua B theo thoả thuận của hợp đồng. Cùng ngày 30/9, một người khác (người mua C), là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của người mua B, đề nghị người bán A bán số hàng đó cho họ với giá cao hơn 20% giá trong hợp đồng giữa A và B. Người bán A lợi dụng thoả thuận giữa họ với người mua B, đồng ý bán cho người mua C số hàng lẽ ra phải giao cho người mua B, bởi vì họ nghĩ rằng trong thời hạn 15 ngày, họ có thừa khả năng chuẩn bị đủ hàng để giao cho người mua B. Ngày 15/10 người mua B nhận hàng theo hợp đồng, thế nhưng lúc này, họ buộc phải bán rẻ vì thị trường đã không còn nhu cầu. Vì thế, người mua B phải chịu một số thiệt  hại đáng kể nào đó. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo khoản 1 điều 77 Luật thương mại hiện hành người mua B không có quyền yêu cầu người bán yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Ví dụ 2: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa người bán và người mua có thỏa thuận rằng, người bán chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng hóa trong thời hạn 12 tháng, tính từ  ngày giao hàng được thỏa thuận trong hợp đồng. Hết thời hạn nói trên, người mua mới phát hiện hàng hóa không phù hợp với diều kiện của hợp đồng và người mua cũng có căn cứ xác đáng rằng, trước thời điểm ký hợp đồng người bán đã biết được hàng hóa có khuyết tật nhưng không thông báo cho người mua về điều đó. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, nếu người bán thông báo cho người mua biết rằng, hàng hóa có khuyết tật thì người mua có lẽ đã từ chối ký kết hợp đồng mua bán này. Theo quy định của khoản 1 điều 77 Luật thương mại 1997, người bán không phải chịu trách nhiệm trước người mua vì thời hạn do các bên thỏa thuận đã hết.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người bị thiệt hại gián tiếp từ sự cố ý lợi dụng thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, không có quyền yêu cầu phía bên kia bồi thường thiệt hại.
3. Đề xuất
Để đảm bảo sự công bằng và quyền lợi của những bên “yếu hơn” và trật tự thương mại nói chung§, cần phải có sự đánh giá thích đáng về mặt pháp lý thỏa  thuận của các bên tham gia hợp đồng về hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 77 Luật thương mại hiện hành (hay điểm (a) khoản 1 Điều 280 dự thảo Luật thương mại sửa đổi lần 8) nội dung sau: “Thỏa thuận của các bên về miễn trừ trách nhiệm sẽ không có giá trị pháp lý nếu thỏa thuận đó liên quan đến vi phạm hợp đồng do cố ý”.
Quy định như vậy là phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở nước ta. /.
 [1] Xem: Luật bán hàng năm 1979 của Anh
 [2] Xem: Jenkins D. The Essence of the Contract. The Cambridge Law Journal, vol 27 (November 1969), p.262
 [3] Xem: Điều 2-302 Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ
 [4] Xem: Nicolas B. French Law of Contract, London, 1982, p.228
 [5] Xem: Comarov A.C, Trách nhiệm trong hoạt động thương mại, Matxcơva, 1991, tr.158


NHỮNG LUẬN CỨ ĐỂ MỞ RỘNG THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI TS. Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. HCM

NHỮNG LUẬN CỨ ĐỂ MỞ RỘNG THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. HCM

Hội luật gia Việt Nam đang chủ trì soạn thảo Luật Trọng tài thương mại (TTTM). Có lẽ đây là một trong những dự thảo luật thu hút được nhiều sự chú ý của các chuyên gia pháp lý trong và ngoài nước, các nhà hoạt động thực tiễn và của nhiều nhà làm luật. Có thể nói, so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, nội dung của Dự thảo Luật Trọng tài có nhiều điểm mới và chúng được nhiều người quan tâm và đánh giá cao. Đặc biệt Ban soạn thảo đã tỏ ra rất mạnh dạn khi mở rộng phạm vi điều chỉnh của nó. Không bó hẹp như phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 chỉ giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thoả thuận của các bên, Dự thảo Luật TTTM quy định phạm vi điều chỉnh là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự theo thoả thuận của các bên. Cụ thể theo Điều 2 của Dự thảo Luật, các tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng có thể được giải quyết bằng trọng tài. Đồng thời cũng quy định các tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài: i) Tranh chấp liên quan đến các quyền nhân thân, tranh chấp liên quan đến quan hệ hôn nhân, gia đình và thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình; ii) Tranh chấp liên quan đến việc phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; iii) Tranh chấp về bất động sản; iv) Tranh chấp giữa các chính phủ, trừ trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác; v) Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Về vấn đề này tôi chia sẻ ý kiến của GS Đáo Trí Úc “Mở rộng thẩm quyền của trọng tài phù hợp với tính chất của các quan hệ kinh tế – xã hội hiện nay trong bối cảnh Việt Nam là nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh. Theo đó, ngoài thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại, Luật cần mở rộng các lĩnh vực dân sự, lao động theo yêu cầu của các bên và các bên tranh chấp không chỉ là tổ chức, cá nhân kinh doanh. Với tính chất là hình thức tài phán tư, trọng tài cần được tạo điều kiện để có thể giải quyết tất cả các tranh chấp tư, bao gồm cả các tranh chấp hợp đồng và ngoài hợp đồng, trừ những quan hệ liên quan đến lợi ích công và trật tư cộng cộng ”.
Mặc dù vậy, xung quanh việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài  còn có nhiều ý kiến, quan điểm trái chiều, có nhiều người ủng hộ, chia sẻ và cũng có nhiều người phản đối. Trong phạm vi bài viết tôi muốn đưa ra một số lập luận để ủng hộ việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài theo như Dự thảo luật.
Trước hết, tôi cho rằng, việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài sẽ giải quyết được vấn đề xung đột thẩm quyền của Toà án và trọng tài. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thấy trong nhiều trường hợp rất khó xác định  tranh chấp cụ thể nào đó thuộc thẩm quyền của Trọng tài hay của Toà án, của Toà Kinh tế hay Toà dân sự. Điều này được lý giải bưởi việc: i) Trong nhiều trường hợp khó có thể phân biệt  được một cách rõ ràng tranh chấp dân sự hay tranh chấp thương mại, bởi lẽ tiêu chí để phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại vốn dĩ không rõ ràng; ii) khái niệm tranh chấp kinh donh thương mại cũng không được quy định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam. Theo Điểm b, tiểu mục 1.1, mục 1 Nghị quyết 01/2005, Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTĐS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận. Nếu coi mục đích lợi nhuận là tiêu chí để xác định tranh chấp kinh doanh thương mại thì mặc nhiên coi hợp đồng được ký kết vì mục đích lợi nhuận, không phụ thuộc vào chủ thể có đăng ký kinh doanh hay không, là hợp đồng thương mại. Rõ ràng nếu pháp luật quy định như vậy thì quả là có quá nhiều vấn đề cần phải luận giải cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Dưới góc độ lý luận, trong khoa học pháp lý mục đích được coi là căn cứ để phân biệt hợp đồng dân sự và thương mại, tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính ước lệ. Dưới góc độ thực tiễn, với cách quy như vậy thì hợp đồng giữa người trồng rau muống với người mua rau muống để bán cũng được coi là hợp đồng thương mại và tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này (nếu có) được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà Kinh tế. Theo logic thì trong hợp đồng mua bán nói trên hoàn toàn có thể có thoả thuận trọng tài.
 Mặt khác, tôi cho rằng, nếu thẩm quyền của trọng tài chỉ giới hạn trong phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại thì không những gặp nhiều khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết một tranh chấp cụ thể mà còn rất có thể sẽ dẫn đến sự lạm dụng của toà án trong việc tuyên huỷ quyết định của trọng tài. Theo quy định của pháp luật, một trong những điều kiện để toà án có thể huỷ quyết định của trọng tài là tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài. Nếu không phân định rõ (mà cũng khó có thể đưa ra những tiêu chí cụ thể để phân định) tranh chấp thương mại và tranh chấp phi thương mại thì chắc chắn trong nhiều trường hợp, vì những lý do khác nhau toà án có thể tuyên huỷ phán quyết của trọng tài. Rõ ràng, nhìn từ góc độ này nếu thẩm quyền của trọng tài được mở rộng thì sẽ hạn chế được số lượng phán quyết của trọng tài bị toà án tuyên huỷ. Ngoài ra, việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài hạn chế được sự giải thích tuỳ tiện của của Toà án cũng như sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật quy định điều kiện huỷ phán quyết của trọng tài .
Thứ hai, việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài như Dự thảo luật thể hiện sự phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển của xã hội. Khoản 1, Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quy định, thoả thuận trọng tài là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài giải quyết tất cả hoặc một số tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên trong quan hệ pháp lý xác định cho dù đó là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng. Phải hiểu rằng, việc UNCITRAL soạn thảo và ban hành Luật mẫu không phải chỉ để áp dụng giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế mà còn có mục đích là để các quốc gia tham khảo khi soạn thảo và ban hành luật trọng tài của mình. Như vậy theo quy định của Luật mẫu, có ba nội dung cần phải chú ý: i) trọng tài có thể giải quyết tranh chấp trong hợp đồng và cả tranh chấp ngoài hợp đồng với điều kiện là phải có thoả thuận trọng tài; ii) khái niệm “thương mại” quy định tại Chú thích 2 của Luật mẫu 1985 không phải là một danh sách liệt kê toàn bộ các hành vi thương mại và trong đó có những hoạt động mà theo pháp luật Việt Nam không phải là hoạt động thương mại, vid dụ, vận chuyển hành khách; iii) Như đã phân tích ở trên, việc phân biệt hành vi thương mại với hành vi phi thương mại hiện nay chỉ mang tính ước lệ, bởi lẽ xã hội càng phát triển thì ranh giới giữa, ví dụ, hợp đồng thương mại với hợp đồng dân sự trong nhiều trường hợp rất khó xác định. Có lẽ chính vì vậy nên hầu hết pháp luật các nước đều không phân biệt rõ các tranh chấp thương mại và tranh chấp phi thương mại  vì trong thực tiễn trong nhiều trường hợp không thể phân biệt được hợp đồng dân sự với hợp đồng thương mại.
Thứ ba, mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo tôi, là cách biểu hiện sự tôn trọng quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức. Thẩm quyền của trọng tài, theo Dự thảo, được mở rộng so với quy định của Pháp lệnh Trọng tài 2003. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, cho dù được mở rộng nhưng thẩm quyền của trọng tài cũng chỉ giới hạn trong phạm vi tranh chấp liên quan đến tài sản. Cùng với sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường, quyền tự do cá nhân ngày càng được mở rộng. Các tranh chấp phát sinh trong và ngoài hợp đồng là những tranh chấp gắn liền với tài sản. Vì vậy thiết nghĩ, cá nhân, tổ chức không những có quyền tự do định đoạt tài sản của mình mà còn cần phải được tự do trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản đó. Ai cũng biết rằng, tranh chấp nếu được toà án giải quyết thì có thể kéo dài, vì vậy, suy cho cùng  có thể ảnh hưởng đến tình trạng tài sản của các bên. Bởi lẽ không ai có thể đảm bảo rằng, một bản án của toà sơ thẩm sẽ không bị một trong các bên kháng cáo. Khi vì bị kháng cáo, thời gian giải quyết tranh cháp kéo dài thì tài sản tranh chấp nhiều khi không còn. Mặt khác, rõ ràng thực tiễn xét xử cho thấy sự phức tạp của việc giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản ở Việt Nam. Tranh chấp của các bên trong hợp đồng, không cần phân biệt là hợp đồng dân sự hay thương mại, là tranh chấp tài sản. Hoạt động thương mại hay lưu thông dân sự trong thế giới đầy biến động ngày nay yêu cầu ngày càng phải được linh hoạt hơn và trọng tài-là phương thức xét xử một cấp có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Mở rộng thẩm quyền của trọng tài, có nghĩa là tôn trọng trọng tài, mà tôn trọng trọng tài có nghĩa là tôn trọng khế ước, tôn trọng chủ quyền tư của các bên dân sự, nếu điều đấy được thể hiện rõ thì dự luật trọng tài sẽ có một triết lý rõ rệt .
Thứ tư, mở rộng thẩm quyền của trọng tài là bước đi phù hợp với việc xây dựng một xã hội dân sự mà hiện nay Việt Nam đang cố gắng từng bước để đạt được điều đó. Điều mà ai cũng biết là trong xã hội dân sự một phần chức năng của các cơ quan nhà nước được chuyển giao cho các tổ chức xã hội, cho cá nhân. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân giao cho nhà nước quyền đó thì cũng có thể lấy lại một số quyền họ đã trao. Ở các nước phát triển các tổ chức xã hội giữ một vai trò quan trọng trong việc thực hiện một số chức năng của nhà nước bằng cách chia sẻ quyền lực với họ. Trong thời gian gần đây chúng ta đã triển khai mô hình Công chứng tư, Thừa phát lại, đây là cách thức để cá nhân, tổ chức phi chính phủ có thể chia sẻ, gánh vác một phần công việc của Nhà nước. Vậy thì lý do nào để hạn chế thẩm quyền giải quyết của trọng tài khi việc mở rộng sẽ làm giảm gánh nặng của hệ thống toà án, vốn đã quá tải vì lượng án khổng lồ hàng năm. . Một thực tiễn có lẽ ai cũng có thể nhận thấy là hiện tại hệ thống toà án các cấp đang phải đối mặt với một khối lượng công việc khổng lồ là những tranh chấp dân sự, kinh tế, hành chính, thương mại, hình sự , những năm gần đây, trung bình mỗi năm ngành toà án phải giải quyết khoảng 260 ngàn vụ án các loại trong khi số lượng thẩm phán hiện nay chưa đến 4.500 người . Như vậy, rõ ràng việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài là hình thức chia sẻ công việc với Toà án. Chính vì lý do trên nên tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến của nhiều chuyên gia pháp lý khi cho rằng, việc Ban soạn thảo Luật TTTM mở rộng phạm vi điều chỉnh không chỉ tạo cơ hội cho trọng tài tham gia giải quyết các vụ tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự theo thoả thuận của các bên, đồng thời chia sẻ bớt gánh nặng xét xử cho ngành toà án, tạo sự lựa chọn tự do cho các bên tranh chấp. Hy vọng rằng, với những tính năng ưu việt của trọng tài khi giải quyết tranh chấp: bí mật, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và quyết định có giá trị chung thẩm và việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Trọng tài, sẽ mang lại nhiều thuận lợi thúc đẩy hoạt động trọng tài ở Việt Nam phát triển lên tầm cao mới . Ngoài ra, theo tôi việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài không những chia sẻ việc giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản với Toà án mà còn góp phần khắc phục tình trạng thiếu thẩm phán ở nước ta-một vấn đề mà tưởng chứng như không giải quyết nổi trong những năm vừa qua. Hơn nữa, mở rộng thẩm quyền xét xử của trọng tài và tăng cường nghĩa vụ giúp đỡ trọng tài của toà án, dưới một góc độ nào đó cũng có nghĩa là hạn chế sự lạm dụng quyền lực của toà án.
Thứ năm, pháp luật luôn khuyến khích giải quyết mọi loại tranh chấp trong hợp đồng và ngoài hợp đồng bằng phương thức thương lượng và hoà giải (trong một số trường hợp thương lượng và hoà giải là thủ tục bắt buộc). Vấn đề ở đây là pháp luật khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng hoà giải thì không lý gì lại hạn chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Bởi lẽ trọng tài không những có đặc điểm hợp đồng và tư pháp mà còn là thủ tục giải quyết tranh chấp có tính hoà giải cao. Trong hoà giải trong tố tụng, quyết định hoà giải thành có giá trị pháp lý bắt buộc thi hành. Vậy thì, ở đây mở rộng thẩm quyền của trọng tài chẳng qua cũng chỉ là việc thừa nhận giá trị pháp lý của quyết định hoà giải thành trong thủ tục hoà giải ngoài tố tụng.
Vì những lý do nói trên nên tôi cho rằng, không phân biệt tranh chấp dân sự hay thương mại, không phân biệt tranh chấp hợp đồng hay ngoài hợp đồng, chừng nào các bên có thoả thuận trọng tài thì trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó.
Trên đây là những lập luận tôi muốn đưa ra để ủng hộ cho việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài. Để thuyết phục hơn, trong phạm vi bài viết tôi có một số phân tích, đánh giá một số ý kiến phản đối việc mở rộng nói trên. Những ý kiến phản đối được thể hiện trong Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội  và trong một số bài viết .
Thứ nhất, việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài đối với tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng như dự thảo Luật sẽ phát sinh mâu thuẫn, chồng chéo với một số văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự… Tôi cho rằng, lập luận nói trên khó có thể thuyết phục, bởi lẽ nếu việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài có mâu thuẫn thực sự với Bộ luật Tố tụng dân sự thì cần phải xem xét các quy định đó của Bộ luật Tố tụng dân sự đã thật sự hợp lý và phù hợp với thực tiễn hay chưa. Tại cuộc hội thảo “Hoàn thiện BL TTDS đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp trong kinh doanh” do Viện Nhà nước và pháp luật phối hợp với Viện KAS của Đức tổ chức ngày 5-6 tháng 10 năm 2009 tại Vũng Tàu vấn đề gây nhiều tranh luận nhất là xác định thẩm quyền của Toà Kinh tế. Tranh chấp nào thuộc thẩm quyền, tranh chấp nào không thuộc thẩm quyền của Toà Kinh tế. Rất khó có thể xác định bởi lẽ như đã nói ở trên, không có bất cứ tiêu chí cụ thể, rõ ràng nào có thể cho phép  phân định tranh chấp thương mại với tranh chấp phi thương mại. Tôi cho rằng, nếu thẩm quyền trọng tài được mở rộng như Dự thảo luật thì những vấn đề nói trên có thể được giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả. Vì vậy tôi cho rằng, sẽ là hợp lý nếu luật trọng và Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi cùng đồng thời được thông qua.
Liên quan đến Luật Thi hành án dân sự, tôi cho rằng, việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài hoàn toàn không mâu thuẫn, chồng chéo với luật này. Bởi lẽ, quyết định của Toà án hay của Trọng tài nếu khong được thi hành một cách tự nguyện thì sẽ được Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành theo thủ tục cưỡng chế. Rõ ràng, về nguyên tắc không có gì khác biệt giữa việc thi hành quyết định của Toà án và quyết định của trọng tài.
Thứ hai, để phản đối việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài, nhiều ý kiến cho rằng, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chưa được phổ biến; sự hiểu biết pháp luật của các tổ chức, cá nhân kinh doanh còn hạn chế. Ý kiến nói trên cũng rất khó có thể thuyết phục, bởi lẽ không có cơ sở để chứng minh. Bất kỳ một người đã quan một khoá học về pháp luật dù là ngắn hạn hay dài hạn đều biết những ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sao với Toà án. Vậy tại sao trong thực tiễn ở Việt Nam phương thức trọng tài ít được lựa chọn? Vần đề này thiết nghĩa các nhà làm luật cũng như các nhà quản lý cần phải quan tâm. Một trong những lý do, như đã nêu trên, là sự hiểu biết pháp luật của các tổ chức, cá nhân kinh doanh còn hạn chế. Nhà nước không thể vì lý do đó để hạn chế thẩm quyền của trọng tài.  Tuy nhiên, không vì điều đó mà hạn chế thẩm quyền của trọng tài, bởi lẽ, theo tôi, Hạn chế thẩm quyền trọng tài có nghĩa là hạn chế quyền tự do của cá nhân và tổ chức. Nhà nước khi hạn chế quyền tự do của cá nhân thì phải giải thích để họ hiểu rằng, tại sao quyền tự do của họ bị hạn chế. Hơn nữa ở Việt Nam hiện nay có một bộ phận không nhỏ cá nhân, tổ chức có nhận thức pháp luật, biết được một trong những ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là tính chuyên nghiệp và muốn lựa chọn phương thức này. Nếu pháp luật hạn chế thẩm quyền của trọng tài thì liệu quyền tự do định đoạt của họ đã được tôn trọng hay chưa? Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy rằng, trong số những người phản đối việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài, chưa có ai chứng minh được rằng, việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài khi nhận thức pháp lý của người dân còn hạn chế sẽ có tác động xấu như thế nào và cho ai. Rất đơn giản, bởi lẽ, theo tôi, cho dù nhận thức pháp luật của cá nhân tổ chức còn hạn chế thì việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài hoàn toàn không gây ra bất cứ một hậu quả xấu nào cho bất kỳ ai. Vậy thì không vì lẽ gì để hạn chế thẩm quyền của trọng tài. Giáo dục pháp luật cho người dân là trách nhiệm của Nhà và các tổ chức xã hội ở Việt Nam. Sự hiểu biết pháp luật của cá nhán, tổ chức còn hạn chế là do Nước và các tổ chức xã hội chưa làm tốt trách nhiệm của mình.
 Mặt khác việc xây dựng pháp luật cần phải có tính dự báo. Không thể đợi đến lúc nhận thức pháp lý của người dân được nâng cao thì mới mở rộng thẩm quyền của trọng tài. Theo tôi, ngược lại chính việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài sẽ làm cho nhận thức pháp lý của các nhận và tổ chức được nâng cao và vì vậy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ trở nên phổ biến hơn. Xã hội ngày càng phát triển thì nhận thức của các nhân, sử hiểu biết của con người nói chung và về pháp luật nói riêng sẽ cao hơn, chính đội ngũ luật sư không ngừng tăng về số lượng cũng như việc ngày càng có nhiều cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam sẽ góp phần trong việc nâng cao nhận thức pháp lý của người dân.
Thứ ba, đội ngũ trọng tài viên của nước ta chưa đủ về số lượng và chất lượng để có thể đảm nhiệm được ngay trách nhiệm giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Tôi cho rằng, nhận định trên rất không thuyết phục vì thiếu cơ sở, bởi lẽ: i) Căn cứ vào đâu để nói rằng, đội ngũ trọng tài viên của nước ta chưa đủ về số lượng, phải chăng căn cứ vào số lượng trọng tài viên hiện có ở nước ta hiện này? Nếu dựa vào số lượng trọng tài viên hiện có để nói thiếu về số lượng thì quả thật là chưa có sự hiểu biết thấu đáo về trọng tài và phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trọng tài là một tổ chức phi chính phủ và vì vậy trọng tài viên không thuộc biên chế của Nhà nước cũng như không thuộc biên chế của bất cứ tổ chức trọng tài nào mà họ làm việc trong các lĩnh vực khác nhau trong xã hội, họ tham gia trọng tài vì được xã hội tín nhiệm. Nếu theo tiêu chuẩn của một trọng tài viên, không những theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, mà theo quy định của pháp luật trọng tài các nước thì ở Việt Nam số lượng người có thể làm trọng tài viên lớn hơn rất nhiều so với số lượng thẩm phán Việt Nam hiện có; ii) Khi chưa biết người nào có thể làm trọng tài viên thì không thể nói trọng tài viên không có khả năng giải quyết các tranh chấp trong và ngoài hợp đồng được. Như đã đề cập ở trên, trọng tài viên thường là những chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau. Vậy  thì không thể nói họ không có đủ năng lực. Giữa một giảng viên luật có kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu với một thẩm phán có kinh nghiệm thì khó có thể nói ai có khả năng giải quyết hơn ai. Thẩm phán thường có kinh nghiệm thực tiễn nhưng lại yếu lý thuyết còn giảng viên nắm chắc lý thuyết nhưng thiếu thực tiễn. Chính vì thiếu những kiến thức mang tính lý luận.nên trong nhiều trường hợp thẩm phán thường sử dụng phép quy chiếu khi giải quyết tranh chấp. Thực tiễn cho thấy khả năng giải thích pháp luật khi áp dụng của thẩm phán không cao vì thiếu nền tảng lý luận pháp lý, vì vậy họ  tỏ ra khá cứng nhắc khi áp dụng pháp luật. Chính vì lẽ đó nên theo tôi, thẩm phán của Việt Nam hiện nay chỉ có thể phát huy được vai trò của mình khi pháp luật rất cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, pháp luật chỉ có thể và nên rõ ràng, và không bao giờ cụ thể mà luôn có tính trừu tượng. Pháp luật mang tính trừu tượng thì cần phải giải thích khi áp dụng. Bởi lẽ cùng một quy định của pháp luật nhưng nó có thể có nhiều cách giải thích không giống nhau phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Vì vậy, tôi cho rằng, trong số giảng viên của các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam có không ít người có khả năng giải thích pháp luật khi áp dụng và họ hoàn toàn có thể là trọng tài viên. Như vậy thì khó có thể nói trong tài viên không đủ chất lượng. Chúng ta thường phàn nàn rằng, sinh viên luật Việt Nam chỉ biết lý thuyết mà kém thực tiễn, điều này một phần vì theo pháp luật hiện hành giảng viên luật không được đồng thời là luật sư. Giảng viên bị hạn chế trong việc tiếp cận với thực tiễn thì sinh viên làm sao có thể giỏi thực tiễn được. Pháp luật đã không cho giảng viên luật, những người làm công tác nghiên cứu pháp luật thuộc biên chế nhà nước làm luật sư thì cũng phải tạo cơ chế cho họ có thể tiếp cận với thực tiễn, theo tôi cách thức tốt nhất là mở rộng thẩm quyền của trọng tài để họ có thể tham gia hoạt động thực tiễn. Điều này hoàn toàn có lợi cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và cho sinh viên Luật.
Ngoài ra, những người phản đối việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài lập luận rằng, việc giải quyết tranh chấp thương mại tại các Trung tâm trọng tài chưa hấp dẫn đối các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại . Bằng chứng là hiện nay trên phạm vi cả nước có 7 trung tâm trọng tài được thành lập nhưng có 3 trung tâm từ khi thành lập đến nay chưa giải quyết được vụ nào.  Trong 7 trung tâm nói trên chỉ có Trung tâm Trọng tài quốc tế có sô vụ việc tranh chấp thụ lý, giải quyết nhiều nhất, tuy nhiên tính bình quân 3 năm 2004, 2005, 2006 cũng chỉ có khoảng 20 vụ/năm. . Thực trạng nói trên, theo quan điểm của tôi, không phải có cội nguồn từ việc đội ngũ trọng tài viên vừa thiếu, yếu và trọng tài không không hấp dẫn, mà nguyên nhân nằm ở chỗ khác- pháp luật chưa giải quyết được mối liên hệ giữa trọng tài với toà án. Chính vì vậy nên việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài còn có quá nhiều rủi ro. i) khả năng phán quyết của trọng tài bị huỷ vì việc xác định thẩm quyền cón quá khó khăn và phức tạp; ii) khó có thể thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng vì luật trọng tài thương mại không quy định nên trong thực tế việc giải quyết tranh chấp của trọng tài gặp nhiều khó khăn .
Từ những phân tích nói trên, chúng tôi có cho rằng, tất cả các lập luận được đưa ra nhằm hạn chế thẩm quyền của trọng tài thiếu cơ sở và vì vậy không thể thuyết phục. Chính vì lẽ đó nên tôi ủng hộ việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài như quy định tại Dự thảo Luật Trọng tài.
Kết luận: theo quan điểm của tôi việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài giải quyết các tranh chấp trong và ngoài hợp đồng không phân biệt tranh chấp dân sự hay thương mại như trong Dự thảo Luật Trọng tài là cần thiết và nên làm. Tuy nhiên, để tránh mâu thuẩn với một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì theo tôi, đồng thời với việc hoàn chỉnh Dự luật trọng tài, Quốc hội nên có kế hoạch chỉnh sửa một số nội dung của Bộ luật Tố tụng dân sự, cho dù có vì vậy mà việc thông qua Luật Trọng tài có thể lùi lại một thời gian.