Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT

ÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 08/2018/DS-ST NGÀY 22/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT
Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2017 về việc “Kiện đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST – DS ngày 08 tháng 5 năm 2018  giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê Viết T, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
* Bị đơn: Bà Phùng Thị L, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng TMCP Nam Á
Địa chỉ: 201- 203 Cách Mạng Tháng Tám, phường 4, Quận 3, TP.HCM Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T7 – Chức vụ: Chủ tịch
hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy P – Chức vụ: Giám đốc
Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Bình Phước.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đăng C – Chức vụ: Phó phòng kinh do Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Bình Phước.
Địa chỉ: Số R đường H, phường T, Tx. Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
3. Cháu Lê Phương T2, sinh năm 2000 – Người giám hộ của cháu Lê
Phương T2 là bà Phùng Thị L, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
4. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1 là: Bà Ngô Thị T3, sinh năm 1974
Địa chỉ: Tổ T, Khu phố P, phường T, tx. Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1941 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bà Lê Thị T4, sinh năm 1977 (Có đơn xin xét xử vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
3. Bà Lê Thị O, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Viết T, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Ngô Thị T3  trình bày:
Năm 1995 ông T được mẹ là bà Nguyễn Thị X cho một phần diện tích đất và ông T nhận chuyển nhượng thêm của ông T6 (không rõ họ và hiện nay cư trú ở đâu) với tổng diện tích là 16.340m2 đất tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước trên đất trồng điều, đến ngày 25/5/2000 thì được UBND huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD đất số R139019 số vào sổ LH/69/ĐL/2000.
Vào năm 2004 ông T cho anh trai của ông là ông Lê Viết T5 và chị dâu là bà Phùng Thị L ở nhờ trên căn nhà gỗ tạm mà ông T đã làm lấy nơi cư ngụ và ông T để cho T5 và bà L T4 hoạch điều để có tiền mưu sinh và nuôi con ăn học nhưng hàng năm bà L và T5 phải trả tiền lãi số tiền 50.000.000 đồng cho ông T đã vay tại Ngân hàng Bù Nho, còn số tiền gốc ông T có trách nhiệm trả. Việc cho mượn đất vườn điều trên không làm giấy tờ gì, vì là anh em trong gia đình nên chỉ nói miệng nhưng có thỏa T4ận khi nào lấy lại đất vườn điều thì báo trước một vụ điều. Vào năm 2008 do căn nhà xuống cấp nên ông T có đưa tiền cho T5 và bà L để sửa chữa lại (Thay tường ván bằng tường xây) do T5 và bà L bỏ công ra làm.
Đến năm 2010 anh trai ông T là T5 chết vì bị bệnh ưng thư nhưng vì nghĩ bà L là chị dâu lại một mình nuôi con nên ông T vẫn cho bà L ở và T4 hoạch điều hàng năm để lấy tiền nuôi con ăn học. Đến năm 2016 do ông T có nhu cầu sử dụng đất và nhà nên đã yêu cầu bà Phùng Thị L phải trả lại diện tích đất 16.340 m2 cho ông T thì bà L đồng ý trả nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến không chấp nhận trả nên phát sinh tranh chấp.
Nay ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng buộc bà Phùng Thị L phải trả lại diện tích đất và tài sản trên đất cho ông đồng thời ông T có nghĩa vụ thanh toán các công trình, cây trồng mà bà L đã đầu tư.
Bị đơn bà Phùng Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tai phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Bà L không thống nhất với lời trình bày cũng như yêu cầu của ông T vì vào năm 2004 vợ chồng bà vào miền Nam lập nghiệp thì ông T có bán cho vợ chồng bà diện tích đất 16.340m2  đất tọa lạc tại thôn Thanh Long, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng với số tiền là 50.000.000 đồng, nhưng khi đó ông T đang cầm Giấy CNQSDĐ để vay vốn ở Ngân hàng Bù Nho với số tiền là 50.000.000 đồng. Vì vậy giữa bà và chồng bà là ông Lê Viết T5 với ông Lê Viết T và vợ là bà Nguyễn Thị T1 chỉ thỏa T4ận miệng với nhau là vợ chồng bà hàng quí phải đưa tiền lãi cho ông T để trả lãi ngân hàng còn tiền gốc thì vợ chồng bà sẽ trả dần cho ông T. Vì là chỗ anh em trong gia đình nên đã không làm giấy tờ mua bán gì, mà việc thỏa T4ận này khi đó có mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị X chứng kiến còn anh em trong gia đình sau đó mới biết sự việc. Vào năm 2007  bà có trả cho ông T 30.000.000 đồng để đi trả cho Ngân hàng, đến năm 2008 ông T lên Ngân hàng lấy giấy CNQSDĐ về và vợ chồng bà có nhận nợ lại với ông T số tiền còn lại là 20.000.000 đồng tiền bán đất.
Đến tháng 7 năm 2010 chồng bà là ông Lê Viết T5 chết do bị bệnh ưng thư, cũng trong năm đó bà và ông T có chốt lại giấy công nợ cụ thể như sau:
- Tiền mua đất vợ chồng bà còn thiếu 63.800.000 đồng
- Tiền mượn ông T xin việc là 8.000.000 đồng
- Tiền mượn ông T xây chuồng heo là 10.000.000 đồng
Tổng cộng bà còn nợ của ông T là 81.800.000 đồng nhưng ông T cho 1.000.000 đồng còn lại là 80.800.000 đồng. Bà L nợ cô T4 là 5.000.000 đồng, nợ chị O là 15.000.000 đồng ( cô T4, chị O là chị em ruột của chồng bà ). Đến năm 2011 bà trả cho ông T là 30.000.000 đồng (không làm giấy tờ gì), số tiền bà còn nợ lại ông T là 50.800.000 đồng từ thời gian đó đến nay chưa trả. Bà thống nhất các con số ông T giải trình về số tiền đưa T5 đi bệnh viện cứu chữa, tổng số tiền còn nợ của ông T, cô T4, chị O. Nhưng số tiền này là số tiền vợ chồng bà mua đất của ông T còn thiếu là 63.800.000 đồng chứ không phải là khoản nợ như ông T đã giải trình như trên.
- Đối với số tiền ông T giải trình 14.700.000 đồng bà có ý kiến như sau: 10.000.000 đồng là tiền T5 mượn tiền của ông T mua đất của ông Nhân, sau đó T5 bán luôn nhưng bà không có mặt ở trong Nam mà đang ở ngoài Bắc việc trả hay chưa bà không biết sau này bà vào trong Nam thì nghe nói lại. Còn số tiền 4.700.000 đồng là tiền T5 mượn nhờ ông T đi mua tôn giùm để làm chuồng heo (số tiền này bà có mặt và thừa nhận số tiền trên).
- Đối với số tiền ông T giải trình 49.100.000 đồng bà có ý kiến như sau: Số tiền 23.900.000 đồng ông T đưa T5 vay để điều trị bệnh bà đồng ý, số tiền 4.200.000 đồng tiền mua máy cưa, 21.000.000 đồng tiền mua máy cày có sự việc trên và khi đó bà cũng đang sống với T5 ở trong Nam nhưng chưa có khả năng trả cho ông T, số tiền này vợ chồng bà đã trả dần cho ông T nên tổng cộng cả tiền đất và công nợ là 63.800.000 đồng. Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông T bà không đồng ý cũng như không có yêu cầu phản tố.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Bình Phước Ông Nguyễn Đăng C trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Năm 2016 ông T bà T1 có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Nam á chi nhánh Bình Phước vay số tiền là 2.200.000.000 đồng trong đó có thế chấp giấy CNQSD đất có diện tích 16.340m2   đất tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước trên đất trồng điều, tài sản này để đảm bảo khoản vay là 650.000.000 đồng thời hạn vay là 03 năm từ thời điểm vay. Trong vụ án này Ngân hàng vẫn cho ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng không có ý kiến hay yêu cầu gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định pháp luật
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 là bà Ngô Thị T3 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Bà thông nhất với lời trình bày của nguyên đơn, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Lê Phương T2 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Việc mua bán đất giữa bố mẹ cháu và chú T là cháu không biết. Nay trước yêu cầu khởi kiện của chú T, cháu không có ý kiến gì và thống nhất theo ý kiến của mẹ cháu là bà Phùng Thị L.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị X có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải trình bày:
Bà chỉ biết năm 2004 con trai bà là T5 và con dâu là bà L từ quê vào Nam lập nghiệp thì ông T có cho T5 và bà L mượn diện tích đất trên của ông T để ở và canh tác, sinh sống từ thời gian đó cho đến nay ngoài ra bà không biết có việc mua bán hay không, cũng không biết gì khác. Lời trình bày của bà L là không đúng vì bà không chứng kiến việc mua bán diện tích đất trên giữa ông T và vợ chồng T5  mà chỉ chứng kiến việc ông T cho T5, bà L mượn đất.
Người làm chứng bà Lê Thị T4 có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải trình bày:
Bà có cho vợ chồng anh T5, chị L mượn số tiền 5.000.000 đồng vào năm 2007. Số tiền này hiện nay vẫn chưa trả. Bà không chứng kiến cũng như không biết việc ông T và vợ chồng T5, bà L có mua bán đất với nhau hay không.
Nhưng theo ý kiến cá nhân của bà thì ông T chỉ cho vợ chồng T5 và bà L mượn đất ở và canh tác chứ không mua bán gì.
Người làm chứng bà Lê Thị O trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Bà có cho vợ chồng T5, bà L mượn số tiền 15.000.000 đồng vào năm 2007. Số tiền này hiện nay vẫn chưa trả. Nhưng theo ý kiến cá nhân của bà thì ông T chỉ cho vợ chồng T5 và Bà L mượn đất ở và canh tác vì anh em gia đình đùm bọc lẫn nhau nên có thỏa T4ận là ông T cho vợ chồng T5, bà L ở và canh tác trên đất. Bản chốt công nợ năm 2010 khi T5 chết ông T chốt công nợ với bà L, bản chốt công nợ trên là đúng do ông T viết nhưng không có tính tiền mua bán đất.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 512, Điều 514, Điều 516, Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 23/10/2017 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu bà Phùng Thị L trả diện tích đất mà ông đã cho T5, bà L mượn ở và canh tác từ năm 2004 cho đến nay có diện tích là là 16.340 m2  đất tọa lạc tại thôn 11 (nay là thôn Thanh Long), xã L, huyện P (nay là huyện P), tỉnh Bình Phước. Nguyên đơn ông T khởi kiện đối với bị đơn bà Phùng Thị L về việc “Kiện đòi tài sản cho mượn là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. Đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn, bà Phùng Thị L và diện tích đất tranh chấp tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án xác định đây là vụ án “Tranh chấp Hợp đồng mượn tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” các bên xác lập năm 2004 và đến năm 2016 thì phát sinh tranh chấp  nên căn cứ vào Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản có liên quan để giải quyết.
[2] Xét về nguồn gốc đất tranh chấp và các giấy tờ thể hiện quyền sử dụng đất:
Theo lời trình bày của ông T thì nguồn  gốc đất tranh chấp là vào năm 1995 ông T được mẹ là bà Nguyễn Thị X cho một phần diện tích và ông nhận chuyển nhượng lại của ông T6 (không rõ họ và hiện nay cư trú ở đâu). Đến ngày 25/5/2000 thì được UBND huyện Phước L (nay là huyện P), tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R139019 số vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số LH/69/ĐL/2000 cho hộ ông Lê Viết T có diện tích là 16.340 m2  đất tọa lạc tại thôn 11 (nay là thôn Thanh Long), xã L, huyện P (nay là huyện P), tỉnh Bình Phước. Đến năm 2004 bà L, T5 mới từ ngoài bắc vào nam lập nghiệp khi đó lại có con nhỏ và chưa có nơi cư trú ổn định vì nghĩ là chỗ anh em với nhau nên ông T đã cho vợ chồng T5, bà L ở nhờ trên phần diện tích đấ này để canh tác và có nơi làm ăn sinh sống.
Bị đơn bà Phùng Thị L xác nhận nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp là do mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị X mua của một người ở Bình Dương (không rõ họ tên) vào năm 1995. Khi đó gia đình mẹ chồng bà gồm có chồng bà là ông Lê Viết T5, bà Lê Thi O, bà Lê Thị Toán, bà Lê Thị T4, ông Lê Viết T. Đến năm 2000 thì bà lấy T5 sau đó vợ chồng bà về Phú Thọ làm ăn sinh sống cho đến năm 2004 thì về lại xã Long Hà, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước sinh sống cũng trong năm 2004 thì mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị X có nói với vợ chồng bà là vừa bán vừa cho phần diện tích đất này nhưng khi đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ông T đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Bù Nho với số tiền là 50.000.000 đồng. Nên vợ chồng bà có thỏa T4ận với ông T là vợ chồng bà sẽ đưa tiền cho ông T đi đóng lãi đến khi nào ông T có tiền sẽ lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này về thì làm thủ tục chuyển nhượng cho vợ chồng bà nhưng từ thời gian đó cho đến nay chưa có điều kiện đi làm thủ tục sang tên tách thửa theo quy định của pháp luật.
[3] Xét lời khai của các đương sự:
Ông Lê Viết T xác định nguồn gốc đất và nguyên nhân xảy ra tranh chấp đối với diện  tích đất 16.340 m2  là như trên và khẳng định không có việc ông chuyển nhượng cho T5, bà L. Đối với bà L thì cho rằng có việc chuyển nhượng giữa ông T với vợ chồng bà vào năm 2004 nhưng chỉ là “Hợp đồng miệng” điều này có bà Xuyến (mẹ chồng bà) và bà T4, bà O làm chứng và đến năm 2010 khi chồng bà T5 chết thì ông T có làm giấy chốt công nợ và có bà O chị ông T làm chứng “giấy chốt công nợ” trong đó có tiền chuyển nhượng phần diện tích đất trên như sau: “17.000 +2.600 =19.600 +4.300 =23.900  và 147 + 491 = Sổ đất 6.38 + sin việc 80 + xây chuồng heo 100 = nợ chú T 80,800,000đồng; nợ cô T4 5.000.000đồng, nợ chị O 15.000.000đồng”. Tổng cộng số tiền vợ chồng bà còn nợ của ông T là 81.800.000đồng nhưng ông T cho bà 1.000.000 đồng nên con nợ ông T là 80.800.000 đồng, đến năm 2011 bà trả cho ông T 30.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận và ông T cũng đã thừa nhận số tiền này trong buổi hòa giải và đối chất tại Tòa án thì hiện nay bà chỉ còn nợ ông T là 50.800.000 đồng. Đối với “giấy chốt công nợ” trên ông T giải trình như sau: “Năm 2010 đưa anh trai ông là T5 chữa bệnh ở bệnh viện Phạm Ngọc Thạch hết 17.000.000 đồng.
Ở bệnh viện Nhiệt Đới là 2.600.000 đồng.
Tiền ở bệnh viện Bình Phước và tiền xe chở là 4.300.000 đồng
Tổng cộng số tiền đã lo cho T5 đi điều trị bệnh là 23.900.000 đồng.
Các con số trong giấy chốt công nợ mà bà L cung cấp cho Tòa án giải ông T trình như sau:
- Số 147 nghĩa là 14.700.000 đồng
- Số 491 nghĩa là 49.100.000 đồng
- Số 6.38 nghĩa là 63.800.000 đồng
- Số 80 nghĩa là 8.000.000 đồng
- Số 100 nghĩa là 10.000.000 đồng. ông T trình như sau:
- Số tiền 14.700.000 đồng gồm có 10.000.000 đồng là tiền ông cho T5 mượn để mua đất của ông Nhân và đi làm giấy CNQSDĐ, còn 4.700.000 đồng là ông cho mượn để đi mua tôn lợp chuồng heo.
- 49.100.000 đồng gồm có 23.900.000 đồng cho vợ chồng T5 vay để điều trị bệnh, 4.200.000 đồng là cho mượn để mua máy cưa năm 2006, số tiền 21.000.000 đồng ông cho mượn để T5 mua máy cày năm 2005.
- Số tiền 8.000.000 đồng là tiền ông nhận nợ của ông Cự để cho bà L xin việc.
- Số tiền 10.000.000 đồng là tiền ông cho anh chị T5 vay tiền xây chuồng heo
Tổng cộng là 81.800.000 đồng nhưng trong đó khi T5 chết, ông là người đứng ra lo đám tang nên có phúng viếng là 1.000.000 đồng trừ vào số tiền công nợ. Nên còn lại là 80.800.000 đồng. Bà L còn nợ của cô T4 là 5.000.000 đồng, chị O là 15.000.000 đồng. Năm 2011 bà L có trả cho ông 30.000.000 đồng. Số tiền còn nợ lại là 50.800.000 đồng đến nay vẫn chưa trả”.       Đối với lời trình bày của ông T, bà L về  “giấy chốt công nợ” thì quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành đối chất giữa các đương sự có liên quan làm rõ những mâu T4ẫn trong lời trình bày của đương sự và “giấy chốt công nợ” thể hiện: Các con số, số tiền trong “giấy chốt công nợ” theo lời giải trình của ông T và bà L cũng thừa nhận vấn đề trên nhưng chỉ không chấp nhận là số tiền “63.800.000 đồng là tiền chuyển nhượng đất còn thiếu lại chứ không phải là như ông T trình bày”. Bà Xuyến, bà O, bà T4 cũng không biết việc ông T có chuyển nhượng diện tích đất trên cho T5, bà L hay không, bà L cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh cho việc ông T chuyển nhượng phần diện tích đất này cho bà và T5 vào năm 2004. Bà L không có yêu cầu phản tố, ông T, bà T4, bà O cũng không có yêu cầu bà L phải trả tiền còn thiếu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Việc xem xét thẩm định và định giá tài sản:
Ngày 02/3/2018 Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp và các bên đương sự thỏa T4ận giá trị các tài sản trong vụ án là:  Diện tích đất 14.967 m 2 (Trong giấy CNQSD đất là 16.340 m2 ) và tài sản trên đất tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước có giá là 600.000.000 đồng, 01 nhà tạm có giá là 15.000.000 đồng, 01 nhà bếp có giá là 10.000.000 đồng, 01 dãy chuồng heo có giá l 20.000.000 đồng, 01 chuồng gà có giá là 5.000.000 đồng, 01 nhà tắm có giá là 2.000.000 đồng, 01 giếng nước có giá là 5.000.000 đồng, 02 cái ao có giá là 100.000.000 đồng, 01 bể nước có giá là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 759.000.000đ (Bảy trăm năm mươi chín triệu đồng)
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Lê Viết T khởi kiện bà Phùng Thị L yêu cầu buộc bà L phải trả lại cho ông phần diện tích theo đơn khởi kiện là khoảng 16.340 m2   nhưng theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì diện tích đất tranh chấp là 14.967m2 tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Tại phiên Tòa ông xác định phần diện tích đất tranh chấp là 14.967m2 chứ không phải là 16.340m2, đất có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Phát và ông Cường; Phía Tây giáp đất ông Tiến; Phía Nam giáp đường đất; Phía Bắc giáp suối.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã T4 thập, có trong hồ sơ vụ án đã được phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc bà L cho rằng phần diện tích đất trên là ông T chuyển nhượng cho vợ chồng bà từ năm 2004 chỉ là hợp đồng miệng có bà Xuyến, bà O, bà T4 là người làm chứng và đến năm 2010 thì chốt công nợ giữa ông T và bà L trong đó có thể hiện số tiền chuyển nhượng đất còn Thiếu lại và có bà O làm chứng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa bà L không cung cấp được chứng cứ gì thêm cũng như không chứng minh được có việc chuyển nhượng phần diện tích đất trên giữa vợ chồng bà với ông T nên không có cơ sở để chấp nhận lời trình bày của bà L.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Viết T  là có cơ sở để chấp nhận và cần buộc bà Phùng Thị L và con gái bà là cháu Lê Phương T2 phải trả lại cho ông Lê Viết T diện tích đất 14.967 m2 (trong giấy CNQSD đất là 16.340m2 ) đất tọa lạc tại Thôn Thanh  Long, xã Long Hà, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Đất có tứ cận:
- Phía Đông giáp đất ông Phát và ông Cường;
- Phía Tây giáp đất ông Tiến;
- Phía Nam giáp đường đất;
- Phía Bắc giáp suối.
Đất đã được cấp giấy CNQSD đất số R139019 số vào sổ LH/69/ĐL/2000 do UBND huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước cấp ngày 25/5/2000. Đồng thời ông Lê Viết T có nghĩa vụ phải thanh toán các cây trồng và công trình mà bà L, T5 đã xây dựng trên phần diện tích đất tranh chấp cũng như công sức chăm sóc duy trì các tài sản trên đất để tăng giá trị tài sản này cụ thể như sau: 01 nhà tạm có giá là 15.000.000 đồng, 01 nhà bếp có giá là 10.000.000 đồng, 01 dãy chuồng heo có giá là 20.000.000 đồng, 01 chuồng gà có giá là 5.000.000 đồng, 01 nhà tắm có giá là 2.000.000 đồng, 37 cây điều trồng năm 2005 có giá là 500.000 đồng/cây là 18.500.000 đồng, 20 cây điều trồng năm 2015 có giá là 200.000 đồng/cây là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền trên là 74.500.000đ (bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và tiền công chăm sóc duy trì khối tài sản trên làm tăng giá trị đất và tài sản trên đất là 15% trên tổng giá trị tài sản (759.000.000 đồng) là113.850.000 đồng. Tổng cộng ông T có nghĩa vụ thanh toán cho bà L số tiền là 188.350.000đ (một trăm tám mươi tám triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)
[6] Chi phí tố tụng:
Số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định và định giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng) ông T đã nộp ngày 29/12/2017 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Số tiền đo vẽ phần diện tích đất tranh chấp ông T đã nộp tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Riềng là 2.778.000 đồng do yêu cầu khởi kiện của ông T  được chấp nhận nên bà L phải chịu số tiền này và có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền là 5.778.000đ (Năm triệu bảy trăm bảy mươi tám ngàn đồng)
[7] Án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của  nguyên  đơn  ông  Lê Viết T được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng  khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 147; Điều 157; Điều 165 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 155, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 512, Điều 514, Điều 515, Điều 516, Điều 517 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Viết T về việc yêu cầu buộc bà Phùng Thị L phải trả lại cho ông phần diện tích đất  là 14.967m2 (trong giấy CNQSD đất là 16.340m2 ) đất tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
Buộc bà Phùng Thị L và cháu Lê Phương T2 phải trả lại cho ông Lê Viết T phần diện tích đất 14.967m2 (trong giấy CNQSD đất là 16.340m2 ) đất tọa lạc tại Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
Đất có tứ cận:
- Phía Đông giáp đất ông Phát và ông Cường;
- Phía Tây giáp đất ông Tiến;
- Phía Nam giáp đường đất;
- Phía Bắc giáp suối.
Đất đã được cấp giấy CNQSD đất  số R139019 số vào sổ LH/69/ĐL/2000 do UBND huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước cấp ngày 25/5/2000 cho hộ ông Lê Viết T.
Ông Lê Viết T có nghĩa vụ phải thanh toán cho bà Phùng Thị L số tiền bà đã trồng các cây trồng và xây dựng các công trình xây dựng trên đất là 74.500.000đ (bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và số tiền duy trì phát triển các tài sản trên đất làm tăng giá trị các tài sản trên là 113.850.000đ (một trăm mười ba triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng). Tổng cộng ông T có nghĩa vụ thanh toán cho bà L số tiền là188.350.000đ (một trăm tám mươi tám triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)
1. Chi phí tố tụng:
Bà Phùng Thị L có nghĩa vụ phải trả lại cho ông Lê Viết T số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản và số tiền đo vẽ phần diện tích đất tranh chấp ông T đã nộp tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Riềng là 2.778.000 đồng. Tổng cộng bà L phải trả lại cho ông T là 5.778.000đồng. Đối trừ nghĩa vụ còn lại ông T phải thanh toán cho bà L tổng số tiền là 182.272.000đ (một trăm tám mươi hai triệu hai trăm bảy mươi hai ngàn đồng)
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn bà Phùng Thị L phải chịu 34.360.000 đồng (ba mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng). Ông T không phải chịu số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho ông Lê Viết T đã nộp là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng)  theo  biên lai số 026154 ngày 22/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả T4ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liện quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Bản án: 26/2017/DS - ST. Ngày: 27/07/2017. V/v “Tranh chấp hợp đồng gia công”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN             CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
HUYỆN TÁNH LINH          Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH THUẬN

           

Bản án: 26/2017/DS - ST.
Ngày: 27/07/2017. 
V/v “Tranh chấp hợp đồng gia công”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
        
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN
          
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các hội thẩm  nhân dân:  1. Ông Mai Thế Hải.
                                          2. Ông Nguyễn Hữu Phước.
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận. 
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Tánh
Linh tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2017/TLSTDS, ngày 27 tháng 03 năm 2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2017/QĐST – DS, ngày 07/07/2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: 
- Ông Trần Đắc Long (tên gọi khác: Dương), sinh năm 1979; trú tại: Thôn 2 – Bắc Ruộng – Tánh Linh – Bình Thuận: Có mặt.
Bị đơn:
- Ông Phạm Minh Sơn, sinh năm 1977 - đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thu An, sinh năm 1979; cùng trú tại: Thôn 1 - Huy Khiêm – Tánh Linh – Bình Thuận: Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 
- Bà Ngô Thị Thuẩn, sinh năm 1985; trú tại: Thôn 2 – Bắc Ruộng – Tánh Linh – Bình Thuận: Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu An, sinh năm 1979; trú tại: Thôn 1 - Huy Khiêm – Tánh Linh – Bình Thuận: Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Trong đơn khởi kiện ngày 22/3/2017 và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn ông Trần Đắc Long trình bày như sau:
Vào khoảng tháng 9/2017 giữa ông Trần Đắc Long và ông Phạm Minh Sơn thỏa thuận xây dựng một căn nhà cấp 4 có diện tích 200m2 với số tiền công là 600.000đ/m2 x 200m2 = 120.000.000đ. Các bên thỏa thuận đến thời hạn ngày 20/12/2016 (âm lịch) ông Long phải có trách nhiệm giao nhà cho gia đình ông Sơn. Ông Long có trách nhiệm thi công căn nhà, trả tiền công sơn nước, tiền công bắt điện nước. Các bên có viết và ký kết hợp đồng xây nhà với nhau. Sau đó, phía bên vợ chồng ông Sơn, bà An có phát sinh một một số hạng mục khác ngoài hợp đồng nhưng ông Long vẫn đồng ý xây dựng căn nhà này. Trong quá trình thi công các bên đã thực hiện theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, ông Long xác định sau khi hoàn thành căn nhà giao cho vợ chồng bà An, ông Sơn thì ông Long chỉ nhận được số tiền là 80.000.000đ cộng với các chi phí mà bà An đã trả gồm tiền sơn nước: 12.000.000đ; tiền bắt điện: 4.000.000đ; tiền công bắt ống nước: 750.000đ. Ông Long khấu trừ tiền công đóng la phông bằng tôn lạnh cho bà An là 3.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền bà An đã thanh toán cho ông Long liên quan đến tiền công xây dựng nhà là 99.750.000đ. Còn lại 20.250.000đ  bà An, ông Sơn chưa trả nên ông Long đề nghị vợ chồng bà An, ông Sơn phải có trách nhiệm trả số tiền 20.250.000đ cho vợ chồng ông Long, bà Thuẩn. 
[2] Thể hiện trong các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, bị đơn ông Phạm Minh Sơn đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thu An trình bày: 
Vào khoảng tháng 8 - 9/2016 (âm lịch) giữa vợ chồng bà An, ông Sơn có thỏa thuận xây dựng một căn nhà cấp 4 với diện tích 200m2; tiền công 600.000đ/m2 x 200m2 = 120.000.000đ với ông Trần Đắc Long. Các bên thỏa thuận, ông Long có trách nhiệm xây dựng nhà và chịu các chi phí liên quan đến tiền công thợ xây nhà, tiền bắt điện nước, tiền công sơn nước. Đến ngày 20/12/2016 ông Long phải hoàn thành và giao nhà cho vợ chồng bà An. Bà An thỏa thuận với ông Long xây dựng theo đúng kết cấu được ghi trong bản hợp đồng mà các bên đã ký kết. Tuy nhiên, trong quá trình thi công xây dựng thì phía bà An có thay đổi, phát sinh thêm một số hạng mục khác ngoài hợp đồng. Trong quá trình thi công ông Long đã xây dựng theo đúng yêu cầu của bà An, ông Sơn. Các bên thỏa thuận bà An, ông Sơn có trách nhiệm thanh toán tiền công xây dựng nhà cho ông Long với số tiền 120.000.000đ chia làm 3 lần: Lần thứ 1: Sau khi hoàn thành xong phần móng nhà giao 40.000.000đ; lần thứ 2: Sau khi lợp tôn xong giao: 40.000.000đ; lần thứ 3: Sau khi hoàn thành và giao nhận thanh toán 40.000.000đ. Bà An xác định đã thực hiện việc thanh toán tiền theo đúng thỏa thuận. Tổng số tiền bà An đã giao cho ông Long là 100.000.000đ. Do bà An trực tiếp thanh toán tiền công sơn nước 12.000.000đ; tiền công bắt điện 5.000.000đ; tiền bắt ống nước: 750.000đ. Đồng thời trước kia ông Long và bà An, ông Sơn thỏa thuận đóng la phông bằng tôn lạnh nhưng sau đó phía bà An thay đổi làm la phông bằng thạch cao nên ông Long đồng ý khấu trừ cho bà An 3.000.000đ, tiền công làm la phông.  Như vậy, tổng số tiền bà An đã thanh toán là 120.750.000đ. Cho nên, bà An không còn nợ ông Long tiền xây dựng nhà. Do đó, bà An không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Long.
[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Thuẩn trình bày:
Thống nhất như lời khai của ông Trần Đắc Long. Bà Thuẩn xác định hiện nay vợ chồng bà An, ông Sơn còn thiếu tiền công xây dựng nhà là 20.250.000đ. Cho nên, yêu cầu vợ chồng bà An, ông Sơn phải trả số tiền 20.250.000đ cho bà Thuẩn, ông Long.
[4]. Những chứng cứ  khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
- Ông Trần Đắc Long cung cấp những chứng cứ sau: 01 bản hợp đồng thể hiện nội dung thỏa thuận xây dựng nhà giữa các bên; giấy ghi nội dung theo dõi trả tiền công cho thợ xây dựng; một số họ tên, địa chỉ của những người làm chứng liên quan trong vụ án.
- Bà Nguyễn Thị Thu An cung cấp các chứng cứ sau:  01 bản hợp đồng  thể hiện nội dung thỏa thuận xây dựng nhà giữa các bên, trang thứ 2 có chữ ký màu đỏ ghi nội dung “Dương ứng 40 triệu” và ký tên Dương; bà An cung cấp một số họ tên, địa chỉ của người làm chứng trong vụ án.
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thu thập những chứng cứ như sau: Tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng liên quan trong vụ án.
- Ông Trần Đắc Long và bà Nguyễn Thị Thu An đều thống nhất: Vào khoảng tháng 9/2016 (Al) giữa vợ chồng bà An, ông Sơn có thỏa thuận với ông Long để xây dựng một căn nhà cấp 4 có diện tích 200m2 với số tiền công là 120.000.000đ. Nội dung thỏa thuận được thể hiện trong “Bản hợp đồng” mà các đương sự đã cung cấp. Các bên thống nhất các chi phí mà bà An đã trực tiếp chi trả là: Tiền công sơn nước 12.000.000đ; tiền bắt đường ống nước: 750.000đ. Khấu trừ tiền công đóng la phong bằng tôn lạnh là 3.000.000đ.
- Các vấn đề liên quan đến vụ án các đương sự không thống nhất: Ông Long xác định chỉ nhận từ bà An số tiền mặt là 80.000.000đ. Ông Long chấp nhận trả tiền công bắt điện là 4.000.000đ. Bà An trình bày đã giao cho ông Long tổng số tiền là 100.000.000đ. Tiền công bắt điện bà An đã trả cho ông Thịnh là 5.000.000đ. Ông Long cho rằng hiện nay bà An còn nợ tiền công xây dựng nhà là 20.250.000đ. Bà An không đồng ý mà xác định đã trả toàn bộ chi phí xây dựng nhà là 120.750.000đ nên bà An không còn nợ ông Long số tiền nào liên quan đến tiền công xây nhà.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biếu ý kiến như sau: 
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự.  Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị xem xét áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và các Điều 146, 147, 203 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 542, 547, 549, 552 Bộ luật dân sự năm 2005.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đắc Long.
Buộc vợ chồng ông Phạm Minh Sơn, bà Nguyễn Thị Thu An phải liên đới trả cho ông Trần Đắc Long số tiền công từ hợp đồng gia công xây nhà là 19.250.000đ. Chia phần ông Phạm Minh Sơn phải trả 9.625.000đ; bà Nguyễn Thị Thu An phải trả 9.625.000đ
Bà Nguyễn Thị Thu An, ông Phạm Minh Sơn phải liên đới nộp 962.500đ; ông Trần Đắc Long phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Long số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 700.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Đắc Long vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc vợ chồng ông Phạm Văn Sơn, bà Nguyễn Thị Thu An phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu trong quá trình ông Long thi công xây dựng căn nhà cho vợ chồng ông Sơn, bà An. Bà Nguyễn Thị Thu An cho rằng đã thanh toán toàn bộ số tiền xây dựng nhà cho anh Long nên bà An không chấp nhận yêu cầu này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là tranh chấp hợp đồng gia công là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS; Điều 547 BLDS năm 2005. Cho nên, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLTTDS.
[2[ Xét về yêu cầu khởi khiện của ông Trần Đắc Long:
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng tháng 9/2016 giữa ông Trần Đắc Long (Trần Đắc Dương) và ông Phạm Văn Sơn đã thỏa thuận xây dựng một căn nhà cấp 4 có tổng diện tích là 200m2 với số tiền là 120.000.000đ (600.000đ/1m2 x 200m2); xung quanh nhà xây tường gạch 20cm; giữa nhà xây tường 10cm; đổ trụ cột xung quanh cao 4m;  tường ốp gạch men cao 1.6m; sơn nước mặt tiền + mặt bên hông; lợp tôn 1 mái; đỗ mê hiên chữ L; trần nhà đóng la phông bằng tôn lạnh; điện âm tường và ông Long có trách nhiệm bắt đường ống vệ sinh. Các bên thỏa thuận đến ngày 20/12/2016 âm lịch thì ông Long phải có trách nhiệm giao nhà cho vợ chồng ông Sơn, bà An. Tuy nhiên, trong quá trình thi công phía bên vợ chồng bà An, ông Sơn có thay đổi một số kết cấu so với thỏa thuận ban đầu như ốp thêm đá hoa cương phần mặt tiền và bên hông chữ L của căn nhà; làm la phông bằng thạch cao chứ không làm bằng tôn lạnh; sơn giả đá phần mái hiên mặt tiền nhà và bắt thêm đèn Led, đèn chùm trên phần la phông thạch cao. Tất cả những chi phí liên quan đến phần phát sinh này thì phía vợ chồng bà An, ông Sơn phải chịu. Ông Long đã đồng ý với phần phát sinh này. Trong quá trình thi công các bên đã thực hiện theo đúng thỏa thuận. 
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Long đều xác định: Sau khi thi công phần móng nhà xong thì phía bà An đã thanh toán cho ông Long số tiền 40.000.000đ. Ông Long có viết ký nhận đã ứng số tiền 40.000.000đ này. Sau đó, ông Long đã ứng thêm nhiều lần với số tiền là 40.000.000đ. Tổng số tiền mà ông Long đã ứng liên quan đến tiền công xây dựng căn nhà từ bà An là 80.000.000đ. Ngoài ra, do trong thời gian làm nhà, bà An đã trả những chi phí liên quan đến tiền công bắt điện, tiền công thợ sơn nước. Do lúc đầu các bên thỏa thuận làm la phong bằng tôn lạnh nhưng sau đó phía vợ  chồng bà An làm la phong bằng thạch cao nên ông Long khấu trừ tiền công làm la phông cho bà An là 3.000.000đ. Anh Long đồng ý khấu trừ những chi phí này vào tiền công xây dựng nhà cụ thể: Tiền công bắt điện: 4.000.000đ; tiền bắt đường ống nước 750.000đ; tiền công thợ sơn nước: 12.000.000đ; tiền công đóng la phông 3.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền ông Long đã nhận và thanh toán các chi phí này là 99.750.000đ (80.000.000đ + 12.000.000đ + 4.000.000đ + 750.000đ + 3.000đ). Còn lại số tiền 20.250.000đ bà An chưa thanh toán cho ông Long. Tuy nhiên, bà An không chấp nhận phần trình bày của ông Long mà cho rằng đã trực tiếp thanh toán cho ông Long tổng số tiền liên quan đến phần công xây dựng căn nhà là 100.000.000đ. Cụ thể: Lần thứ nhất: Ông Long làm xong phần móng bà An đã giao số tiền 40.000.000đ; lần thứ hai: Sau khi lợp xong phần tôn mái nhà bà An đưa thêm số tiền 40.000.000đ; lần thứ ba: Khoảng cuối tháng 12/2016 (Al) giao thêm số tiền 20.000.000đ. Ngoài ra, bà An còn thanh toán các khoản chi phí như: Tiền công sơn nước: 12.000.000đ; tiền công bắt điện: 5.000.000đ; tiền bắt đường ống nước 750.000đ; khấu trừ tiền đóng la phông là 3.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền bà An đã thanh toán liên quan đến phần thi công căn nhà cho ông Long là 120.750.000đ.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, ông Long cho rằng trong lần ứng tiền 40.000.000đ có ký nhận nhưng những lần ứng tiền tiếp theo thì các bên không có ký nhận, nhưng bà An có ghi vào sổ theo dõi thanh toán tiền công cho ông Long. Tại phiên tòa, bà An đã cung cấp được một chứng cứ chứng minh đã giao cho ông Long được 40.000.000đ và xác nhận số tiền này đã thanh toán sau khi ông Long xây móng nhà xong. Còn những lần giao tiền sau khi lợp tôn đưa ông Long 40.000.000đ; đến thời điểm tháng 12/2016 (Al) đưa thêm 20.000.000đ thì bà An không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh ông Long đã nhận những số tiền này. Trong khi đó, ông Long chỉ xác định đã nhận từ bà An tổng số tiền là 80.000.000đ; còn số tiền 20.000.000đ mà bà An cho rằng đã thanh toán cho ông Long vào thời điểm tháng 12/2016 (Al) thì ông Long cho rằng không nhận được khoản tiền này. Do bà An không cung cấp được chứng cứ ông Long đã nhận số tiền 20.000.000đ này. Cho nên, việc bà An cho rằng đã thanh toán cho ông Long tổng số tiền công xây nhà là 100.000.000đ là không có cứ để chấp nhận.
Đối với số tiền công bắt điện, bà An cho rằng thanh toán cho ông Trần Ngọc Thịnh số tiền công bắt điện là 5.000.000đ. Ông Long không đồng ý vì ông Long cho rằng khi thỏa thuận với ông Nguyễn Trần Việt Anh về tiền công bắt điện các bên đã thống nhất phía ông Long phải chi trả 20.000đ/1m2 x 200m2 = 4.000.000đ. Sau đó, ông Long cũng thỏa thuận với ông Thịnh sẽ trả tiền công bắt điện là 4.000.000đ. Nên ông Long chỉ chấp nhận thanh toán lại cho bà An số tiền 4.000.000đ.  Tại biên bản lấy lời khai ông Trần Ngọc Thịnh, ngày 18/5/2017 (bút lút 46) thể hiện “…..Giữa ông Long, ông Thịnh và ông Phạm Minh Sơn thỏa thuận thống nhất tiền công bắt điện là 5.000.000đ. Ngoài ra, tiền công bắt thêm phần điện trần trên la phông thạch cao là 1.500.000đ. Thỏa thuận ông Long có trách nhiệm trả tiền điện nhà cho ông Thịnh là 5.000.000đ….”. Do đó, việc ông Long cho rằng đã thỏa thuận với ông Thịnh tiền công bắt điện là 4.000.000đ là không có căn cứ chấp nhận mà có căn cứ chấp nhận số tiền công bắt điện âm tường (không tính tiền công bắt điện trần la phông thạch cao) là 5.000.000đ theo như thỏa thuận giữa ông Long và ông Thịnh là phù hợp.
Xét thấy: Do không có căn cứ chứng minh bà An đã giao cho ông Long số tiền 20.000.000đ vào thời điểm tháng 12/2016 (Al) và ông Long cũng không thừa nhận đã nhận số tiền này. Cho nên, yêu cầu của ông Long buộc vợ chồng bà An, ông Sơn phải thanh toán số tiền xây nhà còn thiếu là có căn để chấp nhận. Căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định, ông Long đã nhận từ bà An tổng số tiền là 80.000.000đ và chấp nhận những khoảng chi phí khấu trừ vào số tiền thi công mà bà An đã chi trả bao gồm: Tiền công sơn nước: 12.000.000đ; tiền công bắt điện: 5.000.000đ; tiền bắt ống nước: 750.000đ; khấu trừ tiền công phần la phông tôn lạnh: 3.000.000đ. Tổng số tiền bà An đã chi trả cho ông Long là: 80.000.000đ + 12.000.000đ + 5.000.000đ + 750.000đ + 3.000.000đ = 100.750.000đ. Do số tiền công xây dựng căn nhà các bên thỏa thuận là 600.000d0/1m2 x 200m2 = 120.000.000đ. Như vậy, số tiền bà An chưa thanh toán cho ông Long là: 120.000.000đ - 100.750.000đ = 19.250.000đ. Do đó, cần buộc vợ chồng bà An, ông Sơn phải có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông Long, bà Thuẩn số tiền xây dựng nhà còn thiếu là 19.250.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 547, khoản 3 Điều 549, khoản 3 Điều 552 BLDS năm 2005.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Long được chấp nhận một phần do đó cần xử buộc bà An, ông Sơn  phải nộp án phí DS/ST theo quy định của pháp luật là phù hợp với Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Ông Trần Đắc Long, bà Ngô Thị Thuẩn yêu cầu vợ chồng bà An, ông Sơn phải trả số tiền công xây nhà còn thiếu là 20.250.000đ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu buộc bà An, ông Sơn phải trả số tiền là 19.250.000đ. Do đó, ông Long, bà Thuẩn phải có trách nhiệm nộp tiền án phí DS/ST đối với phần không được chấp nhận là 1.000.000đ, sung công quỹ nhà nước là phù hợp.
Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH  Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 điều 35, các điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Các Điều 547, khoản 3 Điều 549; khoản 3 Điều 552 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa IV về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đắc Long
- Xử buộc ông Phạm Văn Sơn, bà Nguyễn Thị Thu An phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Đắc Long, bà Ngô Thị Thuẩn số tiền: 19.250.000đ (Mười chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Chia phần:
- Ông Phạm Văn Sơn phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Đắc Long, bà Ngô Thị Thuẩn số tiền 9.625.000đ (Chín triệu sáu trăm hai mươi làm ngàn đồng).
- Bà Nguyễn Thị Thu An phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Đắc Long, bà Ngô Thị Thuẩn số tiền 9.625.000đ (Chín triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi như sau:
+ Trường hợp các bên có thỏa thuận thì mức lãi suất không được vượt quá 20%/năm.
+ Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì mức lãi suất là 10%/năm  - Về án phí DSST: Buộc bà An, ông Sơn phải liên đới nộp 962.500đ án phí DSST, sung công quỹ Nhà nước.
Buộc ông Long, bà Thuẩn phải liên đới nộp số tiền 300.000đ án phí DSST, sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Long đã nộp là 1.000.000đ theo biên lai số N. 0011829, ngày 27/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. 
Ông Trần Đắc Long được hoàn trả lại số tiền 700.000đ tạm ứng án phí đã nộp.
Án xử sơ thẩm công khai; nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/7/2017 (đã giải thích).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:        TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự……….;             Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện;
- C.C thi hành án DS huyện;
- Lưu HS, VP.
                                                                                     
     
      Nguyễn Thị Yến

Tranh chấp hợp đồng gia công

         TÒA ÁN NHÂN DÂN        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 328/2018/DS-PT
Ngày: 29/03/2018        
Vv “Tranh chấp hợp đồng gia công ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
 
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các thẩm phán: 
1/ Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
2/ Ông Lưu Ngọc Thạch

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Phục  - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 03 năm 2018 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2018/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng gia công”.
Do bản án số 819/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 846/2018/QĐ-PT ngày 01 tháng 03 năm 2018, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; (Có mặt)
Địa chỉ cư trú: tổ 5, ấp 2, đường C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc D, sinh năm 1960; (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: đường T, phường M, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh H.
4. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nộp đến Tòa án ngày 07/02/2017 cùng các lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Anh Nguyễn Thanh H trình bày:

Nguyên đơn biết bị đơn là thợ may gần chỗ làm của nguyên đơn. Ngày 01/12/2015, nguyên đơn có thỏa thuận bằng miệng với bị đơn tại nhà bị đơn với nội dung thỏa thuận là bị đơn may cho nguyên đơn 2 quần tây và 1 quần kaki, vải mới, giá vải và tiền công may tổng cộng là 1.150.000 đồng. Bị đơn hẹn thời gian 10 ngày sẽ giao hàng. Bị đơn có đo kích thước của nguyên đơn và ghi trong sổ của bị đơn. Còn mẫu vải bị đơn có đưa cho nguyên đơn giữ. Nguyên đơn có đưa trước cho bị đơn 300.000 đồng. Đến ngày hẹn, bị đơn nói qua điện thoại là bận bịu nên hẹn lại, khi nào xong sẽ điện thoại cho nguyên đơn. Nguyên đơn đã yêu cầu nếu may không kịp thì trả lại tiền vì sắp đến Tết. Đến ngày 30/01/2016 bị đơn mới điện thoại nói đã may xong, bị đơn gọi điện thoại và hai bên thỏa thuận hẹn giao quần tại Bến xe miền Tây. Khi nhận quần, trong 3 quần bị đơn giao có 1 cái quần không đúng vải nguyên đơn đặt nhưng vì bị đơn thuyết phục chất lượng vải là như nhau nên nguyên đơn vẫn nhận. Ngay khi nhận quần thì nguyên đơn không có thử nhưng sau đó nguyên đơn ghé nhà người thân thử quần thì thấy không vừa nên điện thoại thông báo ngay trong ngày hôm đó cho bị đơn và yêu cầu bị đơn xem lại có giao nhầm hay không. Ngày 01/02/2016 nguyên đơn trực tiếp mang 03 quần đến nhà bị đơn đưa cho bị đơn để bị đơn kiểm tra lại. Bị đơn nói phải sau Tết nguyên đán mới kiểm tra được. Tuy nhiên, sau đó bị đơn không thực hiện. Khoảng tháng 4/2016 bị đơn có nhắn tin nói sẽ trả tiền lại cho nguyên đơn nhưng không thực hiện. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 1.150.000 đồng đã nhận và tiền lãi theo lãi vay theo quy định của nhà nước từ ngày 01/12/2015 đến nay. Đồng thời yêu cầu bị đơn đền bù số tiền 1.150.000 đồng do vi phạm hợp đồng.

Tại Bản tự khai 04/5/2017 cùng các lời trình bày trong quá trình tố tụng, bị đơn là Ông Trần Ngọc D trình bày:

Khoảng tháng 10 âm lịch năm 2015, nguyên đơn có thỏa thuận bằng miệng với bị đơn tại nhà bị đơn với nội dung thỏa thuận là bị đơn may cho nguyên đơn 2 quần tây và 1 quần kaki, vải mới, giá vải và tiền công may tổng cộng là 1.150.000 đồng. Bị đơn hẹn thời gian 10 ngày sẽ xong, giao hàng. Bị đơn có đo kích thước của nguyên đơn và ghi trong sổ của bị đơn nhưng hiện không còn lưu giữ nên không cung cấp cho Tòa án được. Còn mẫu vải bị đơn có đưa cho nguyên đơn giữ. Nguyên đơn có đưa trước cho bị đơn 300.000 đồng. Tuy nhiên, do gần tết nhiều người đặt may nên không may kịp cho nguyên đơn nên bị đơn có hẹn nguyên đơn lại, khi nào xong sẽ điện thoại cho nguyên đơn. Sau đó khoảng 20 ngày bị đơn may xong nên gọi nguyên đơn đến lấy và hai bên thỏa thuận hẹn giao quần tại Bến xe miền Tây. Khi nhận quần, trong 3 quần bị đơn giao có 1 cái quần không đúng vải nguyên đơn đặt nhưng nguyên đơn vẫn nhận. Bị đơn có kêu nguyên đơn thử quần nhưng nguyên đơn không thử. Trong ngày hôm đó, nguyên đơn có điện thoại nói với bị đơn đồ không vừa và có yêu cầu bị đơn sửa. Ngày 01/02/2016 nguyên đơn trực tiếp mang 03 quần đến nhà bị đơn đưa cho bị đơn, lúc nguyên đơn đưa là đồ cũ và nguyên đơn yêu cầu sửa rộng ra hai phân nên bị đơn mới nhận để sửa chứ nếu nguyên đơn không kêu sửa thì bị đơn đã không nhận vì nếu nguyên đơn đưa quần còn mới như lúc bị đơn giao thì bị đơn đồng ý nhận lại và trả lại tiền. Khi đó bị đơn nói phải sau Tết nguyên đán mới làm được. Bị đơn có nhắn tin nói sẽ trả tiền lại cho nguyên đơn nhưng không thực hiện vì nguyên đơn không cho địa chỉ mà yêu cầu phải chuyển khoản, còn bị đơn thì không biết chuyển khoản thế nào.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 1.150.000 đồng và tiền lãi, đền bù 1.150.000 đồng bị đơn không đồng ý. Bị đơn chỉ đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận nếu nguyên đơn trả lại đồ còn mới. 
Bản án sơ thẩm tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 444 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Anh Nguyễn Thanh H.
1.1 Trường hợp Anh Nguyễn Thanh H đồng ý nhận hai quần tây và một quần kaki theo Biên bản giao nhận chứng cứ ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thì Ông Trần Ngọc D có nghĩa vụ thanh toán cho Anh Nguyễn Thanh H 345.000 (Ba trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng tiền giảm giá.
1.2 Trường hợp Anh Nguyễn Thanh H không đồng ý nhận hai quần tây và một quần kaki theo Biên bản giao nhận chứng cứ ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thì Ông Trần Ngọc D có nghĩa vụ thanh toán cho Anh Nguyễn Thanh H số tiền 908.500 (Chín trăm lẻ tám nghìn năm trăm) đồng (gồm 345.000 đồng tiền giảm giá và 563.500 đồng tiền bồi thường thiệt hại). Ông Trần Ngọc D được quyền nhận hai quần tây và một quần kaki theo Biên bản giao nhận chứng cứ ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ngay sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho Anh Nguyễn Thanh H.
1.3 Thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán: ngay sau khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
1.4 Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí sơ thẩm:
- Ông Trần Ngọc D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Anh Nguyễn Thanh H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp (300000 đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018207 ngày 07/04/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Anh Nguyễn Thanh H đã nộp đủ án phí.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 03/01/2018 nguyên đơn-ông Nguyễn Thanh H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 819/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
Ngày 26/1/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị số 12/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, 
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh H trình bày: Yêu cầu bị đơn trả lại 1.150.000 đồng đã nhận và tiền lãi theo lãi vay theo quy định của nhà nước từ ngày 01/12/2015 đến nay đồng thời yêu cầu bị đơn đền bù số tiền 1.150.000 đồng do vi phạm hợp đồng do bị đơn là ông Dũng không thực hiện đúng hợp đồng 
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên kháng nghị. 
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày kháng nghị :
1. Theo sự thỏa thuận của hai bên đương sự và căn cứ Điều 547, Điều 548 Bộ luật dân sự 2005 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng gia công”. Bởi lẽ, ông Nguyễn Thanh H mua vải của ông Dũng và có giữ mẫu vải để đối chiếu, so sánh; ông Nguyễn Thanh H đặt ông Dũng may 03 quần theo số đo của ông Nguyễn Thanh H và kiểu cách mà ông Nguyễn Thanh H chọn, tuy nhiên do phía bị đơn giao hàng không đảm bảo chất lượng, ông Nguyễn Thanh H mặc không vừa và có yêu cầu nhưng phía bị đơn không thể sửa chữa được trong thời hạn đã thỏa thuận. Căn cứ Khoản 3 Điều 550 Bộ luật dân sự năm 2005, phía nguyên đơn có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản án xác định đây là quan hệ  “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” và áp dụng các điều, khoản của Bộ luật dân sự về quan hệ tranh chấp này để giải quyết là chưa chính xác.
2. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại số tiền đã nhận và lãi suất 9%/năm từ ngày 01/12/2015 nhưng bản án lại tuyên xử 1.1 Trường hợp Anh Nguyễn Thanh H đồng ý nhận hai quần tây và một quần ... 1.2 Trường hợp Anh Nguyễn Thanh H không đồng ý nhận hai quần tây và một quần kaki... Xét việc tuyên như vậy là không giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, vi phạm Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và gây khó khăn trong quá trình thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa lại án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng :
Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo :
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Xét thấy bị đơn chấp nhận nhận lại quần để sửa nhưng không thực hiện, bản thân bị đơn chấp nhận hoàn trả tiền lại cho nguyên đơn chứng tỏ bị đơn là người có lỗi trong thực hiện hợp đồng do đó phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận.
Đối với yêu cầu phạt và tính lãi của nguyên đơn, xét thấy hai bên không có thỏa thuận về vấn đề này do đó yêu cầu này của nguyên đơn là không có cơ sở, nên đề nghị Hội Hồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thời hạn kháng cáo, kháng nghị: 
Ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp mở phiên tòa xét xử và tuyên theo bản án số 819/2017/DS-ST. Ngày 03/01/2018 nguyên đơn- ông Nguyễn Thanh H kháng cáo ; ngày 26/01/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị. Căn cứ Khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, kháng cáo và kháng nghị còn trong thời hạn luật định nên được xem xét.
[2] Nội dung kháng cáo, kháng nghị: 
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án : Cần xác định tranh chấp giữa hai bên là tranh chấp về hợp đồng gia công, trong đó bên nhận gia công là người cung cấp nguyên vật liệu theo điều 542 Bộ luật dân sự. Cấp sơ thẩm xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là không chính xác.
Đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị: Xét thấy trong quá trình thực hiện hợp đồng bên nguyên đơn trình bày phía bị đơn cung cấp sản phẩm không đúng yêu cầu kể cả về kích cỡ và chủng loại, sau đó hai bên thỏa thuận lại phía bị đơn sẽ sửa chữa lại nhưng bị đơn không thực hiện cam kết này. Sau đó  bị đơn và nguyên đơn thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, bị đơn sẽ hoàn lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận nhưng bị đơn không thực hiện.
Các chứng cứ trên thể hiện lỗi hoàn toàn thuộc về phía bị đơn trong việc thực hiện hợp đồng gia công (Ba cái quần tây), cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn có một phần lỗi là thiếu cơ sở, các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng này và bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 1.150.000 đồng đã nhận. Do bị đơn không trả lại tiền theo thỏa thuận nên yêu cầu của bị đơn buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền đã nhận là có cơ sở.
Đối với kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu phạt một khoản tiền bằng số tiền đã nhận và phải chịu lãi, xét thấy hai bên không thỏa thuận về vấn đề phạt và lãi do đó kháng cáo của nguyên đơn về vấn đề này là không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Do sửa án nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các bên đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Căn cứ  nhận định trên.
Áp dụng khoản 2 điều 306 Bộ luật Tố tụng dân sự [3] Án phí dân sự sơ thẩm : 
Ông Trần Ngọc Dũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 1.150.000 đồng là : 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí 300.000 đồng đối với yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và lãi suất không được chấp nhận nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp (300.000 đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018207 ngày 07/04/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Anh Nguyễn Thanh H đã nộp đủ án phí.

[4] Án phí phúc thẩm : Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ những nhận định trên,
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH 
Tuyên xử:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 819/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- ông Nguyễn Thanh H.
Ông Trần Ngọc Dũng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 1.150.000 đ ( một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Bác yêu cầu của nguyên đơn- ông Nguyễn Thanh H về yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng 1.150.000 đồng và yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền phải thanh toán.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Ngọc D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Ông Nguyễn Thanh H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp (300.000 đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018207 ngày 07/04/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông Nguyễn Thanh H đã nộp đủ án phí.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm,  hoàn lại cho ôngNguyễn Thanh H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ôngNguyễn Thanh H đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0028443 ngày 17/1/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

4. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:                                              TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND TC; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại TPHCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND quận  Gò Vấp;                            
- Chi cục THADS quận Gò Vấp;
- Cục THADS TP.HCM;                    
- Các đương sự;


Dương Tuấn Vinh
- Lưu hồ sơ vụ án, VP.