Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

Doanh nghiệp nhỏ và vừa ơi, cơ hội vay vốn ưu đãi đã đến!


Doanh nghiệp nhỏ và vừa ơi, cơ hội vay vốn ưu đãi đã đến!

Nghị định 45/2024/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành, mang đến nhiều ưu đãi cho vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) như:

  • Hỗ trợ lãi suất: Hỗ trợ tối đa 2%/năm trong thời hạn vay vốn nhưng không quá 24 tháng.

  • Hỗ trợ phí bảo lãnh tín dụng: Hỗ trợ tối đa 50% phí bảo lãnh tín dụng do tổ chức bảo lãnh tín dụng thu theo hợp đồng bảo lãnh.

  • Hỗ trợ chi phí tư vấn: Hỗ trợ tối đa 50% chi phí tư vấn theo hợp đồng tư vấn nhưng không quá 200 triệu đồng/dự án.

Điều kiện vay vốn:

  • Doanh nghiệp có ít nhất 51% vốn chủ sở hữu là vốn trong nước.

  • Hoạt động ít nhất 2 năm liên tiếp trước thời điểm đề nghị vay vốn và có lãi.

  • Nộp đầy đủ các khoản thuế, phí theo quy định của pháp luật.

  • Dự án vay vốn đáp ứng các điều kiện theo quy định của Nghị định này.

Hồ sơ vay vốn:

  • Doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị vay vốn theo quy định tại Nghị định này.

  • Hội đồng thẩm định Quỹ xem xét, thẩm định hồ sơ và quyết định cho vay vốn.

  • Doanh nghiệp ký hợp đồng vay vốn với Quỹ.

Nghị định 45/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/6/2024.

Đây là cơ hội vàng để DNNVV tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và phát triển. Hãy liên hệ với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để được tư vấn và hỗ trợ!

Thông tin liên hệ:

Cùng chung tay phát triển DNNVV Việt Nam!

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2024

QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, CÓ SỰ PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP, KIỂM SOÁT GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP” TRONG HIẾN PHÁP

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013) đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây vừa là quan điểm vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - Thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị.

1. Về quyền lực nhà nước là thống nhất         

Quyền lực nhà nước thống nhất là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Cho đến nay, các khía cạnh của vấn đề quyền lực nhà nước là thống nhất như: Thế nào là thống nhất quyền lực nhà nước? Quyền lực nhà nước thống nhất ở đâu? Ý nghĩa của quyền lực nhà nước là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước như thế nào? Các khía cạnh này chưa được nhận thức thống nhất. Có một số người cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng sự thống nhất đó tập trung vào Quốc hội. Do vậy, Quốc hội được Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Và với vị trí pháp lý đó, những người này cho rằng Quốc hội là cơ quan có toàn quyền, là cơ quan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp. Một số khác lại cho rằng, trong nhà nước kiểu mới như nhà nước ta, giai cấp công nhân và Nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của một Đảng, ngày càng thống nhất về lợi ích, trong nội bộ không có sự phân chia thành phe phái đối lập như trong nhà nước tư sản, nên thống nhất quyền lực nhà nước là yếu tố cơ bản, duy nhất giữ vai trò quyết định trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mà không cần thiết phải phân công quyền lực nhà nước. Quan niệm này đề cao tính thống nhất của quyền lực nhà nước, phủ nhận, xem thường hoặc hạ thấp vai trò của phân công, phân nhiệm rành mạch quyền lực nhà nước. Thực chất quan niệm này cũng không khác gì quan điểm nói trên.

Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực nhà nước thống nhất là ở Nhân dân. Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân dân thể hiện ở nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Trước đây, Hiến pháp cũng quy định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” nhưng được thực hiện bằng nguyên tắc tập trung quyền lực nhà nước (tập quyền). Do đó, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân nhưng lại tập trung vào Quốc hội, như quan niệm nói trên. Với nhận thức rằng, Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng vì không thực hiện được quyền lực nhà nước một cách trực tiếp nên đã trao toàn bộ quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội. Quốc hội được Hiến pháp năm 1980 xác định là cơ quan có toàn quyền. Ngoài 15 nhiệm vụ và quyền hạn quy định ở Điều 83, Hiến pháp 1980 còn quy định “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết” (Điều 83) đến Hiến pháp năm 1992, Điều 84 quy định Quốc hội chỉ có 14 nhiệm vụ quyền hạn (không còn là một Quốc hội toàn quyền như Hiến pháp năm 1980), nhưng Điều 6 Hiến pháp lại quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyên vọng của Nhân dân…”. Như vậy, Quốc hội vẫn là Quốc hội toàn quyền trong Hiến pháp năm 1992 bởi Nhân dân không thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp mà chỉ bằng hình thức dân chủ đại diện. Nguyên tắc tập trung quyền lực nhà nước của Nhân dân vào Quốc hội phù hợp với điều kiện kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, với ưu điểm bảo đảm cho quyền lực nhà nước tập trung, quyết định và thực thi quyền lực nhà nước nhanh chóng, thống nhất. Tuy nhiên, nguyên tắc này trong điều kiện mới đã bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là thiếu sự phân định phạm vi quyền lực nhà nước  được Nhân dân giao quyền nên không đề cao được trách nhiệm của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hạ thấp vai trò dân chủ trực tiếp của Nhân dân, thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước. Hơn nữa, nguyên tắc này phủ nhận tính độc lập tương đối giữa các quyền nên đã hạn chế tính năng động, hiệu quả và trách nhiệm của mỗi quyền. Nhân dân và xã hội không có sơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của quyền lực nhà nước. Do vậy, trong điều kiện dân chủ và pháp quyền XHCN, tập quyền không phù hợp với việc phát huy đầy đủ vai trò của quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước của Nhân dân từ phía các cơ quan nhà nước.

Nhận rõ hạn chế của nguyên tắc tập quyền trong điều kiện mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2). Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân được Hiến pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dân thông qua quyền lập hiến giao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp như các Hiến pháp trước đây. Theo điều 70 Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao và quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Đồng thời điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước mà còn bằng dân chủ trực tiếp thông qua việc thực hiện quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong đó có trưng cầu ý dân về Hiến pháp (điều 29 và điều 120)… Có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức. Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân chứ không phải tập trung ở Quốc hội. Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Trước hết, điều đó chỉ ra rằng quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như Điều 3 Hiến pháp mới đã quy định.

Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất như nói trên của Hiến pháp năm 2013 là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm của nhà nước trước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là Nhân dân.

Như vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất  và tập trung ở Nhân dân, chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước là quan niệm có ý nghĩa chỉ đạo tổ chức quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Mọi biểu hiện xa rời quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 đều dẫn đến tổ chức quyền lực nhà nước kém hiệu quả.

2. Về “phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Trong chế độ dân chủ và pháp quyền XHCN thì quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền. Vì thế, tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Mặt khác, khi ủy quyền cho nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của Nhân dân là số đông chuyển thành số ít của một nhóm người hoặc của một người). C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Hơn nữa, quyền lực nhà nước là của Nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi. Mà con người thì “luôn luôn chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con người. Điều cũng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất”[1]. Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn. Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà Nhân dân đã ủy quyền. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối với người được ủy quyền. Hơn thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm được một cách rạch ròi, vì nó là một thể thống nhất như nói ở trên. Điều đó lại càng đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền.

Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan nói trên, quyền lực nhà nước thường được lượng hóa bằng các quy định của Hiến pháp để phân định nhiệm vụ quyền hạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự lượng hóa này là để giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt Nhân dân thực hiện. Sự phân định các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để Nhân dân giao quyền mà không bị lạm quyền, Nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quả thực hiện các quyền mà mình đã giao. Đồng thời cũng là để cho các cơ quan tương ứng được giao quyền đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tự kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao cho mình. Theo đó, trong Hiến pháp năm 2013 đã có một bước tiến mới trong việc phân công quyền lực nhà nước. Lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn là duy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp năm 1992), quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án Nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Việc xác nhận các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một thay đổi quan trọng, tạo điều kiện để làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi quyền.

Đối với quyền lập pháp là quyền đại diện cho Nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được Nhân dân trao cho quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho Nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của Nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật. Quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội. Vì vây, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật. Đồng thời, là người thay mặt Nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà Nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa. Quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp được quy định ở Điều 70 và Điều 120 của Hiến pháp năm 2013.

Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đề xuất, hoạch định, tổ chức soạn thảo chính sách quốc gia và sau khi chính sách quốc gia được thông qua là người tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Không có một Chính phủ thực hiện quyền hành pháp một cách hữu hiệu, thông minh; không thể có một nhà nước giàu có, phát triển ổn định cả về mặt kinh tế lẫn mặt xã hội. Thực hiện quyền này đòi hỏi Chính phủ và các thành viên của Chính phủ phải nhanh nhạy, quyết đoán kịp thời và quyền uy tập trung thống nhất. Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp được quy định một cách khái quát ở Điều 96 Hiến pháp năm 2013.

Quyền tư pháp là quyền xét xử, được Nhân dân giao cho tòa án thực hiện.  Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán và hội thẩm Nhân dân (khoản 2 Điều 103). Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước. Vì vậy, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ hàng đầu của quyền tư pháp (khoản 3 Điều 102). Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án.

Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan. Ngày nay, xu hướng phân định rành mạch ba quyền đó ngày càng được coi trọng trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi vì, xã hội càng phát triển, phân công lao động càng phải chuyên môn hóa cao để phát huy hiệu quả. Đồng thời, thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta chỉ ra rằng việc phân định mạch lạc ba quyền là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò của nhà nước trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong nhà nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất. Đó là sự thống nhất về mục tiêu chính trị chung. Vì vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không chứa đựng và bao quát việc phân lập mục tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước. Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau, mà “ràng buộc lẫn nhau”, cả ba quyền đều phải phối hợp với nhau, phải hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp – Đạo luật gốc của nhà nước và xã hội quy định. Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ XHCN, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền. Thực tiễn chỉ ra rằng sức mạnh và sự thịnh vượng của một quốc gia, cũng như khả năng đối mặt với những khó khăn, thách thức phần lớn được quyết định bởi sự vững mạnh của các thiết chế, cam kết của các nhánh quyền lực nhà nước với Nhân dân về tính pháp quyền. Điều đó không kém phần quan trọng so với các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu hoặc vị trí địa lý của quốc gia. Những nước duy trì được sự phát triển ổn định lâu dài về kinh tế - xã hội và chính trị chính là những nước tuân theo tinh thần của pháp quyền. Ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, để nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của Nhân dân, tính pháp quyền của nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của Nhân dân, tính pháp quyền của nhà nước ngày càng được đề cao. Nội dung và tinh thần của các quy định về việc phân công nhiệm vụ quyền hạn cho Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân nhìn chung đáp ứng các yêu cầu nói trên và là cơ sở để tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước.

Về kiểm soát quyền lực nhà nước, ngoài việc phân công mạch lạc nhiệm vụ quyền hạn của các quyền để tạo cơ sở cho kiểm soát quyền lực; Hiến pháp năm 2013 còn tạo lập cơ sở Hiến định để hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119). Đồng thời, Hiến pháp giao cho: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Như vậy, Hiến pháp lần này tuy chưa hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghị quyết của Đảng đã đề ra, nhưng với quy định của Điều 119 đã tạo cơ sở hiến định để xây dựng một cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định. Rồi đây, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Thanh tra, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân chắc chắn sẽ được sửa đổi bổ sung để hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp một cách hữu hiệu hơn.

Trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước theo nguyên tắc phân quyền mềm dẻo thì kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, chủ yếu là kiểm soát của lập pháp và tư pháp đối với hành pháp. Để tăng cường kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ví dụ như: Uỷ ban thường vụ Quốc hội được bổ sung thêm  nhiệm vụ: Quyết định, thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới, đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 8, Điều 74). Quốc hội được bổ sung thêm nhiệm vụ quyền hạn: Phê chuẩn, đề nghị, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao (khoản 7, Điều 70). Cùng với điều đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết lập thêm hai thiết chế độc lập: Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp (Điều 117) và Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ giúp Quốc hội kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Điều 118). Sự ra đời các thiết chế hiến định độc lập này cũng nhằm tăng cường các công cụ để Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước trong bầu cử, trong sử dụng tài chính ngân sách nhà nước và tài sản công một cách hiệu quả hơn.

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2024

Nuôi dưỡng khí chất điềm đạm: Bí quyết cho bản thân thanh tao, tự tin

Nuôi dưỡng khí chất điềm đạm: Bí quyết cho bản thân thanh tao, tự tin

Khí chất điềm đạm không chỉ toát lên vẻ đẹp ngoại hình mà còn thể hiện sự thanh tao, tự tin và bản lĩnh nội tại của mỗi người. Nuôi dưỡng khí chất này là hành trình rèn luyện bản thân, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực không ngừng. Tuy nhiên, với 6 bí quyết sau đây, bạn hoàn toàn có thể bồi đắp cho mình một phong thái điềm đạm đáng quý:

1. Kiềm chế mong muốn khoe khoang:

Hãy tự tin vào giá trị của bản thân và tin tưởng rằng những thành tựu bạn đạt được sẽ được mọi người công nhận. Thay vì phô trương thành tích một cách thái quá, hãy tập trung vào việc hoàn thiện bản thân và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm một cách chân thành.

2. Quản lý cảm xúc hiệu quả:

Dù gặp phải bất kỳ khó khăn hay thử thách nào, hãy luôn giữ bình tĩnh và kiểm soát cảm xúc của bản thân. Tránh để cảm xúc chi phối hành động và lời nói, dẫn đến những quyết định sai lầm. Hãy hít thở sâu, suy nghĩ thấu đáo trước khi phản ứng để có thể giải quyết vấn đề một cách sáng suốt và hiệu quả nhất.

3. Chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi giao tiếp:

Sắp xếp suy nghĩ, ý tưởng một cách rõ ràng, logic trước khi tham gia vào các cuộc trò chuyện quan trọng. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ giúp bạn diễn đạt lưu loát, tự tin và dễ dàng truyền tải thông điệp của mình đến người đối diện.

4. Cẩn trọng trong lời nói và hành động:

Hãy suy nghĩ kỹ trước khi nói và hành động để tránh những lời nói hay hành động gây tổn thương hoặc hiểu lầm cho người khác. Biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác cũng là một phần quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh một người điềm đạm và đáng tin cậy.

5. Tránh tranh cãi không cần thiết:

Học cách phân biệt đâu là những vấn đề quan trọng và đâu là những vấn đề nhỏ nhặt. Thay vì lãng phí thời gian và năng lượng vào những tranh cãi không cần thiết, hãy tập trung vào việc giải quyết những vấn đề thực sự quan trọng trong cuộc sống.

6. Đối mặt với thất bại một cách tích cực:

Thất bại là một phần tất yếu trong cuộc sống. Thay vì nản lòng, hãy xem thất bại như cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Hãy kiên trì, không ngừng nỗ lực và cải thiện bản thân để đạt được mục tiêu của mình.

Nuôi dưỡng khí chất điềm đạm là một hành trình dài đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực. Tuy nhiên, những lợi ích mà nó mang lại cho bạn là vô cùng to lớn. Hãy áp dụng những bí quyết trên đây để bồi đắp cho mình một phong thái tự tin, thanh tao và bản lĩnh, giúp bạn thành công trong cuộc sống và gặt hái được nhiều thành tựu.

Hãy nhớ rằng, khí chất điềm đạm không phải là bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình rèn luyện và tu dưỡng bản thân. Hãy kiên trì thực hành những bí quyết trên đây để ngày càng hoàn thiện bản thân và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2024

Phân tích ưu điểm, hạn chế của chính quyền địa phương ở Việt Nam.

Phân tích ưu điểm và hạn chế của chính quyền địa phương ở Việt Nam:

Ưu điểm:

  • Gần dân, sát dân: Chính quyền địa phương hoạt động ở địa bàn cụ thể, gần gũi với người dân, từ đó dễ dàng nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, nhu cầu thiết yếu của nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh ở địa phương.

  • Phát huy vai trò chủ động của nhân dân: Chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức các hoạt động để huy động sự tham gia của nhân dân vào công tác quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với cộng đồng.

  • Đa dạng hóa các hình thức quản lý: Chính quyền địa phương có thể áp dụng nhiều hình thức quản lý khác nhau để phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng lĩnh vực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

  • Gắn bó với địa phương: Cán bộ, công chức ở chính quyền địa phương thường có quê quán, gắn bó với địa phương, từ đó có ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Hạn chế:

  • Thiếu nguồn lực: Nhiều địa phương, đặc biệt là địa phương vùng sâu, vùng xa, còn thiếu nguồn lực về tài chính, nhân lực, trang thiết bị, dẫn đến hạn chế trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao.

  • Năng lực cán bộ còn hạn chế: Một số cán bộ, công chức ở chính quyền địa phương còn thiếu năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, dẫn đến hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp, phát sinh ở địa phương.

  • Tình trạng tham nhũng, lãng phí: Tình trạng tham nhũng, lãng phí còn xảy ra ở một số nơi, gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương.

  • Tác động của cơ chế tập trung dân chủ: Việc tập trung quá nhiều quyền lực vào cấp trên đôi khi khiến cho chính quyền địa phương thiếu chủ động trong việc giải quyết các vấn đề ở địa phương.

  • Sự phối hợp chưa hiệu quả: Việc phối hợp giữa các cơ quan trong chính quyền địa phương, giữa chính quyền địa phương với các cơ quan cấp trên và các tổ chức đoàn thể ở địa phương chưa hiệu quả, dẫn đến một số vướng mắc trong việc giải quyết các vấn đề chung.

Ngoài ra, còn có một số hạn chế khác của chính quyền địa phương ở Việt Nam, ví dụ như:

  • Quy trình thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp.

  • Chất lượng dịch vụ công chưa cao.

  • Việc công khai thông tin chưa đầy đủ, minh bạch.

Giải pháp khắc phục:

Để khắc phục những hạn chế của chính quyền địa phương, cần thực hiện một số giải pháp sau:

  • Tăng cường nguồn lực cho chính quyền địa phương.

  • Nâng cao năng lực cán bộ, công chức ở chính quyền địa phương.

  • Kiên quyết chống lại tham nhũng, lãng phí.

  • Hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền.

  • Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong chính quyền địa phương, giữa chính quyền địa phương với các cơ quan cấp trên và các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

  • Cải cách thủ tục hành chính.

  • Nâng cao chất lượng dịch vụ công.

  • Công khai thông tin một cách đầy đủ, minh bạch.

Bằng cách thực hiện những giải pháp trên, chính quyền địa phương ở Việt Nam sẽ ngày càng hoạt động hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Phân biệt chính quyền địa phương ở nông thôn và chính quyền địa phương ở đô thị.

Phân biệt chính quyền địa phương ở nông thôn và chính quyền địa phương ở đô thị:

Cơ sở pháp lý:

Cả chính quyền địa phương ở nông thôn và chính quyền địa phương ở đô thị đều được quy định bởi Hiến pháp và luật pháp Việt Nam. Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt trong tổ chức và hoạt động do đặc điểm riêng của từng khu vực.

Cơ cấu tổ chức:

  • Chung:

  • Cả hai đều có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND).

  • HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.

  • UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn.

  • Khác biệt:

  • Số lượng thành viên HĐND:

  • Nông thôn: Ít hơn so với đô thị do dân số thưa thớt hơn.

  • Cơ cấu tổ chức UBND:

  • Nông thôn: Có thể có thêm các phòng, ban phụ trách các lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, phát triển cộng đồng,...

  • Đô thị: Có thể có thêm các phòng, ban phụ trách các lĩnh vực như quản lý đô thị, bảo vệ môi trường, giao thông vận tải,...

Chức năng, nhiệm vụ:

  • Chung:

  • Thực hiện các chính sách của nhà nước trên địa bàn.

  • Giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội,... của địa phương.

  • Bảo đảm an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

  • Khác biệt:

  • Nông thôn:

  • Chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân.

  • Xây dựng nông thôn mới.

  • Đô thị:

  • Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

  • Quản lý đô thị, bảo vệ môi trường.

  • Giải quyết các vấn đề về giao thông, nhà ở,...

Hoạt động:

  • Chung:

  • Cả hai đều hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch.

  • Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong địa bàn.

  • Khác biệt:

  • Nông thôn:

  • Gần gũi với nhân dân, thường xuyên tổ chức các buổi họp mặt, trao đổi với bà con.

  • Sử dụng các hình thức tuyên truyền phù hợp với điều kiện địa phương.

  • Đô thị:

  • Sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

  • Phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề xã hội.

Ví dụ:

  • Nông thôn:

  • Chính quyền địa phương xã A vận động bà con nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng.

  • Chính quyền địa phương huyện B tổ chức hội chợ nông sản để giúp bà con tiêu thụ sản phẩm.

  • Đô thị:

  • Chính quyền địa phương thành phố C xây dựng tuyến đường metro để giảm tải giao thông.

  • Chính quyền địa phương quận D triển khai chương trình phân loại rác thải tại nguồn.

Kết luận:

Chính quyền địa phương ở nông thôn và chính quyền địa phương ở đô thị đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của từng khu vực, mỗi nơi cần có những giải pháp phù hợp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Đồng chí hãy đề xuất ý kiến nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam?

Đề xuất ý kiến đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

I. Hoàn thiện hệ thống pháp luật:

  1. Đẩy mạnh công tác lập pháp:

  • Hoàn thiện quy trình lập pháp, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và sự tham gia rộng rãi của nhân dân.

  • Tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

  • Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

  1. Nâng cao chất lượng thực thi pháp luật:

  • Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với cán bộ.

  • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.

  • Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

II. Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước:

  1. Tinh gọn bộ máy nhà nước:

  • Sáp nhập, giải thể các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ trùng lặp.

  • Cắt giảm biên chế cán bộ, công chức, viên chức.

  1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước:

  • Áp dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý nhà nước.

  • Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

  • Phân cấp, phân quyền hợp lý giữa các cấp chính quyền.

  1. Tăng cường sự giám sát của nhân dân:

  • Mở rộng các kênh thông tin, tiếp thu ý kiến của nhân dân.

  • Tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công tác quản lý nhà nước.

  • Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát hoạt động của nhà nước.

III. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước:

  1. Quốc hội:

  • Tăng cường chất lượng hoạt động của Quốc hội, phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền.

  • Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm.

  • Tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách, giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp.

  • Xây dựng Quốc hội số, tổ chức các kỳ họp Quốc hội trực tuyến.

  1. Chính phủ:

  • Tập trung vào quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.

  • Tăng cường năng lực dự báo, phân tích và đề xuất chính sách.

  • Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm.

  • Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành.

  1. Hệ thống tư pháp:

  • Đảm bảo tính độc lập, khách quan, công bằng của toà án.

  • Nâng cao chất lượng xét xử các vụ án.

  • Xây dựng đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên chuyên nghiệp, có đạo đức.

IV. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội:

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền.

  • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên.

  • Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

  1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

  • Phát huy vai trò tập hợp và đoàn kết các tầng lớp nhân dân.

  • Tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật.

  • Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

  1. Các tổ chức chính trị - xã hội khác:

  • Tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.

  • Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

  • Góp phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

V. Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân:

  • Đưa giáo dục pháp luật vào nhà trường, chương trình đào tạo.

  • Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền pháp luật.

  • Tổ chức các hội thi, sân chơi pháp luật.

VI. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

  • Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức về pháp luật và công tác quản lý nhà nước.

  • Thu hút nhân tài vào bộ máy nhà nước.

  • Nâng cao đãi ngộ cho cán bộ, công chức, viên chức.

VII. Tăng cường hợp tác quốc tế:

  • Giao lưu, học tập kinh nghiệm các nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.

  • Tham gia các diễn đàn quốc tế về pháp quyền.

  • Hợp tác với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật.

VIII. Đảm bảo an ninh, quốc phòng:

  • Giữ vững an ninh, trật tự xã hội.

  • Bảo vệ Tổ quốc, biên giới hải đảo.

  • Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại.

IX. Áp dụng khoa học công nghệ:

  • Áp dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý nhà nước.

  • Xây dựng chính quyền điện tử.

  • Cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

X. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng:

  • Khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.

  • Chống các biểu hiện tiêu cực trong công tác thi đua, khen thưởng.

Kết luận:

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài. Cần có sự chung tay góp sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân để thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Ngoài ra, cần tập trung một số vấn đề trọng tâm sau:

  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam gắn với đổi mới, phát triển đất nước.

  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vì con người.

  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện đại, văn minh.

Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tin tưởng rằng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam sẽ ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Lưu ý: Đây chỉ là một số đề xuất, cần nghiên cứu của cá nhân học viên học lớp trung cấp lý luận chính trị 240 HCM để tham khảo cho việc học tập.