Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Phân tích nội dung, biểu hiện và vai trò của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Liên hệ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

 ĐỀ THI MẪU – CÂU 3

Câu 3 (5 điểm):

Phân tích nội dung, biểu hiện và vai trò của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Liên hệ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

✍️ BÀI LÀM MẪU

Mở bài

Quy luật giá trị là một trong những quy luật kinh tế cơ bản, điều tiết mọi hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng, quy luật giá trị không chỉ chi phối mối quan hệ sản xuất mà còn tác động sâu rộng đến sự phân hóa xã hội, hiệu quả phân bổ nguồn lực và đổi mới công nghệ. Việc hiểu và vận dụng đúng quy luật này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam hiện nay.

1. Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết.

Hao phí lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động trung bình để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa trong điều kiện bình thường (về trình độ, công nghệ, cường độ...).

Ví dụ: Hai người cùng làm bánh mì, người A làm bằng tay mất 3 giờ, người B dùng máy chỉ mất 1 giờ. Thị trường sẽ chấp nhận giá dựa theo lao động xã hội trung bình – khoảng 1,5 giờ, nên ai làm nhanh hơn sẽ có lợi hơn.

2. Biểu hiện của quy luật giá trị

Trong sản xuất:

Người sản xuất nào có hao phí lao động thấp hơn trung bình → có lợi nhuận → khuyến khích cạnh tranh và cải tiến kỹ thuật.

Hao phí cao hơn trung bình → thua lỗ → bị đào thải khỏi thị trường.

Trong lưu thông (trao đổi):

Giá cả thị trường vận động xoay quanh giá trị:

Cung = cầu → giá cả ≈ giá trị.

Cung > cầu → giá giảm.

Cầu > cung → giá tăng.

Giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị, nhưng luôn biến động, bị chi phối bởi cung – cầu, tâm lý, chính sách, thời điểm...

3. Vai trò của quy luật giá trị

a. Điều tiết sản xuất và lưu thông

Hướng dòng vốn và lao động vào ngành có lợi nhuận cao.

Điều chỉnh sản lượng giữa các ngành nghề theo tín hiệu giá cả.

b. Kích thích cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất

Ai tiết kiệm được lao động – chi phí sản xuất thấp → có lợi thế cạnh tranh.

Quy luật thúc đẩy ứng dụng KHCN, đổi mới quy trình sản xuất.

c. Phân hóa người sản xuất

Người sản xuất giỏi → có lãi → mở rộng sản xuất.

Người sản xuất kém → thua lỗ → bị thu hẹp hoặc bị loại khỏi thị trường.

Tạo ra sự phân tầng giàu – nghèo trong nền kinh tế hàng hóa.

4. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó:

Quy luật giá trị được vận dụng để điều tiết cung – cầu, quản lý giá cả, định hướng sản xuất.

Nhà nước không can thiệp trực tiếp giá trị hàng hóa, mà sử dụng thuế – trợ giá – chính sách đầu tư để khuyến khích sản xuất hiệu quả.

Doanh nghiệp Việt đang học cách sản xuất theo thị trường: “sản xuất cái thị trường cần” chứ không phải “cái mình có”.

Ví dụ:

Giá rau củ tăng cao → nông dân mở rộng trồng trọt → nguồn cung tăng → giá hạ xuống → điều tiết tự nhiên.

Một số ngành thủ công truyền thống (gốm, dệt...) không cải tiến công nghệ bị thu hẹp do chi phí sản xuất cao hơn giá trị thị trường.

Kết luận

Quy luật giá trị là nền tảng vận hành của nền kinh tế hàng hóa. Trong điều kiện Việt Nam, việc nắm vững và vận dụng quy luật giá trị một cách khoa học sẽ giúp cân đối sản xuất, ổn định thị trường và phát triển kinh tế bền vững theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là vấn đề lý luận, mà là công cụ điều tiết thiết thực trong quản lý kinh tế hiện đại.

Phân tích điều kiện ra đời và đặc điểm của sản xuất hàng hóa. Liên hệ với sự phát triển sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.

 ĐỀ THI MẪU – CÂU 2

Câu 2 (5 điểm):

Phân tích điều kiện ra đời và đặc điểm của sản xuất hàng hóa. Liên hệ với sự phát triển sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.

✍️ BÀI LÀM MẪU (ĐIỂM TỐI ĐA)

Mở bài

Sản xuất hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế xuất hiện từ rất sớm và đến nay vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ những điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa, từ đó giúp các quốc gia, trong đó có Việt Nam, vận dụng để xây dựng nền kinh tế hiệu quả, năng động và hội nhập quốc tế.

1. Khái niệm sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là một hình thức tổ chức kinh tế mà sản phẩm làm ra không nhằm phục vụ nhu cầu trực tiếp của người sản xuất, mà để trao đổi, mua bán trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của người khác.

2. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

a. Phân công lao động xã hội

Đây là cơ sở kinh tế – kỹ thuật của sản xuất hàng hóa.

Khi xã hội có sự chuyên môn hóa sản xuất, mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ làm ra một loại sản phẩm, muốn đáp ứng nhu cầu khác thì phải trao đổi với người khác.

Phân công càng sâu sắc, sản xuất hàng hóa càng phát triển.

b. Sự tách biệt kinh tế tương đối giữa các chủ thể sản xuất

Các chủ thể sản xuất có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng riêng biệt về tư liệu sản xuất và sản phẩm.

Họ tự quyết định sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dẫn đến cần có trao đổi để tồn tại và phát triển.

Kết luận: Hai điều kiện này là tiền đề bắt buộc để sản xuất hàng hóa xuất hiện và phát triển.

3. Đặc điểm của sản xuất hàng hóa

Mục tiêu sản xuất là giá trị trao đổi: Không nhằm tiêu dùng trực tiếp mà để trao đổi lấy sản phẩm khác.

Mang tính xã hội hóa cao: Quá trình sản xuất và tiêu dùng mang tính liên kết thị trường và phụ thuộc lẫn nhau.

Gắn liền với sự vận động của các quy luật kinh tế: Như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, cạnh tranh…

4. Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với tự cung tự cấp

Thúc đẩy chuyên môn hóa – nâng cao năng suất lao động.

Kích thích ứng dụng khoa học – công nghệ.

Tạo ra nền kinh tế năng động, thúc đẩy đổi mới – sáng tạo.

Tăng cường sự liên kết trong nước và hội nhập quốc tế.

5. Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

Trước Đổi mới (trước 1986), nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp, sản xuất mang tính bao cấp, hàng hóa khan hiếm.

Sau Đổi mới:

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xã hội có nhiều thành phần kinh tế, sản xuất gắn với nhu cầu thị trường.

Nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh mẽ, tạo ra hàng triệu sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Việt Nam hiện là nước có độ mở kinh tế lớn, xuất khẩu hàng hóa sang hơn 200 quốc gia.

Ví dụ:

Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tại Bình Dương, Đồng Nai tập trung vào sản xuất để xuất khẩu.

Ngành nông nghiệp chuyển từ “sản xuất nhiều bán được ít” sang “sản xuất theo đơn hàng” – thể hiện rõ vai trò định hướng thị trường trong sản xuất hàng hóa.

Kết luận

Sản xuất hàng hóa là nền tảng của nền kinh tế thị trường hiện đại. Việc hiểu rõ và vận dụng đúng điều kiện, đặc điểm và quy luật của sản xuất hàng hóa không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước. Với Việt Nam, phát triển sản xuất hàng hóa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là con đường tất yếu để hội nhập, phát triển bền vững và thịnh vượng.

Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác – Lênin. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

 📝 ĐỀ THI MẪU – KINH TẾ CHÍNH TRỊ (TRUNG CẤP LLCT)

Câu 1 (5 điểm):

Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác – Lênin. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

✍️ BÀI LÀM GỢI Ý (ĐIỂM TỐI ĐA)

Mở bài

Trong nền kinh tế hàng hóa, hàng hóa là phạm trù trung tâm, là tế bào kinh tế của xã hội có trao đổi. C. Mác đã chỉ ra rằng, sở dĩ hàng hóa có thể tồn tại và vận động trong nền sản xuất hàng hóa là vì bản thân hàng hóa mang trong nó hai thuộc tính cơ bản: giá trị sử dụng và giá trị. Việc nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hóa có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Nội dung

1. Khái niệm hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, và được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường.

Không phải mọi sản phẩm đều là hàng hóa, chỉ những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị trao đổi mới trở thành hàng hóa.

2. Hai thuộc tính của hàng hóa

a) Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa, có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người.

Giá trị sử dụng mang tính vật chất, gắn liền với thuộc tính tự nhiên của hàng hóa.

Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong tiêu dùng, không phải trong trao đổi.

Đối với hàng hóa, giá trị sử dụng không phải cho người sản xuất, mà cho người khác thông qua mua bán.

Ví dụ:

Gạo dùng để ăn, quần áo dùng để mặc, điện thoại dùng để liên lạc… đều là giá trị sử dụng của hàng hóa.

b) Giá trị

Giá trị là lao động xã hội trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa.

Giá trị phản ánh quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa.

Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó trong điều kiện trung bình của xã hội.

Cần phân biệt:

Lao động cụ thể → tạo ra giá trị sử dụng.

Lao động trừu tượng → tạo ra giá trị.

3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa

Hai thuộc tính thống nhất trong cùng một hàng hóa, nhưng đồng thời mâu thuẫn với nhau.

Giá trị chỉ được thực hiện trong lưu thông, còn giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong tiêu dùng.

Muốn thực hiện được giá trị, hàng hóa bắt buộc phải có giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu xã hội.

Mâu thuẫn này là nguồn gốc của các hiện tượng ế thừa hàng hóa, khủng hoảng sản xuất trong nền kinh tế thị trường.

4. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến giảm chi phí lao động (giá trị) mà còn phải chú trọng chất lượng, mẫu mã, công năng (giá trị sử dụng).

Nhiều sản phẩm nông nghiệp bị “được mùa mất giá” là do giá trị sử dụng không phù hợp với nhu cầu thị trường, dẫn đến không thực hiện được giá trị.

Điều này đòi hỏi sản xuất phải gắn với thị trường, nâng cao chất lượng hàng hóa và hiệu quả lao động xã hội.

Kết luận

Hai thuộc tính của hàng hóa – giá trị sử dụng và giá trị – là cơ sở lý luận quan trọng để hiểu bản chất của nền sản xuất hàng hóa. Việc nhận thức đúng hai thuộc tính này giúp chúng ta vận dụng hiệu quả các quy luật kinh tế trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.