Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?
'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...
Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"
Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...
Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt
24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...
CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'
Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...
Trưởng phòng không lương.
Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.
Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021
Bạn cần nắm thông tin này và chia sẻ cho bạn bè Theo chia sẻ của BS Trương Hữu Khánh BV Nhi Đồng 1
Thứ Hai, 12 tháng 7, 2021
RÁC TRONG NGƯỜI.
Thứ Tư, 7 tháng 7, 2021
Chín điều cần thiết để sống thỏa nguyện (Nine requisites for contented living):
Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021
CHẠM ĐIỂM G - PHÊ TỪNG CUNG BẬC CẢM XÚC.
Quy luật “dấu hỏi” và “dấu ngã” của lớp từ láy và lớp từ Hán - Việt
LUẬT HỎI NGÃ, CÁC LỖI VỀ DẤU CÂU VÀ CÁCH TRÌNH BÀY, CÁC TỪ THƯỜNG DÙNG SAI
A. LUẬT HỎI NGÃ
Trong tiếng Việt chúng ta sử dụng tất cả 1.270 âm tiết với “dấu hỏi” hoặc với “dấu ngã”, trong đó có 793 âm tiết (chiếm 62%) viết “dấu hỏi”, 477 âm tiết (38%) viết “dấu ngã”.
Việc nắm được quy luật “dấu hỏi” và “dấu ngã” của lớp từ láy và lớp từ Hán - Việt sẽ giúp ta giảm được nhiều lỗi chính tả.
A.1. TỪ LÁY & TỪ CÓ DẠNG LÁY
* Các thanh “ngang” (viết không có dấu) và “sắc” đi với thanh “hỏi”, ví dụ như: dư dả, lửng lơ, nóng nảy, vất vả...
* Các thanh “huyền” và “nặng” đi với thanh “ngã”, ví dụ như: tầm tã, lững lờ, vội vã, gọn ghẽ...
Quy tắc từ láy chỉ cho phép viết đúng chính tả 44 âm tiết dấu ngã sau đây:
- ã: ầm ã, ồn ã
- sã: suồng sã
- thãi: thừa thãi
- vãnh: vặt vãnh
- đẵng: đằng đẵng
- ẫm: ẫm ờ
- dẫm: dựa dẫm, dọa dẫm, dò dẫm
- gẫm: gạ gẫm
- rẫm: rờ rẫm
- đẫn: đờ đẫn
- thẫn: thờ thẫn
- đẽ: đẹp đẽ
- ghẽ: gọn ghẽ
- quẽ: quạnh quẽ
- kẽo: kẽo kẹt
- nghẽo: ngặt nghẽo
- nghễ: ngạo nghễ
- nhễ: nhễ nhại
- chễm: chễm chệ
- khễng: khập khễng
- tễnh: tập tễnh
- nghễu: nghễu nghện
- hĩ; hậu hĩ
- ĩ: ầm ĩ
- rĩ; rầu rĩ, rầm rĩ
- hĩnh: hậu hĩnh, hợm hĩnh
- nghĩnh: ngộ nghĩnh
- trĩnh: tròn trĩnh
- xĩnh: xoàng xĩnh
- kĩu: kĩu kịt
- tĩu: tục tĩu
- nhõm: nhẹ nhõm
- long: lạc lõng
- õng: õng ẹo
- ngỗ: ngỗ nghịch, ngỗ ngược
- sỗ: sỗ sàng
- chỗm: chồm chỗm
- sỡ: sặc sỡ, sàm sỡ
- cỡm; kệch cỡm
- ỡm: ỡm ờ
- phỡn; phè phỡn
- phũ: phũ phàng
- gũi: gần gũi
- hững: hờ hững
Ngoài ra còn có 19 âm tiết dấu ngã khác dùng như từ đơn tiết mà có dạng láy ví dụ như:
- cãi cọ
- giãy giụa
- sẵn sàng
- nẫu nà
- đẫy đà
- vẫy vùng
- bẽ bàng
- dễ dàng
- nghĩ ngợi
- khập khiễng
- rõ ràng
- nõn nà
- thõng thượt
- ngỡ ngàng
- cũ kỹ
- nũng nịu
- sững sờ
- sừng sững
- vững vàng
- ưỡn ẹo
Cần phải nhớ: cãi cọ khác với củ cải; nghĩ ngợi khác với nghỉ ngơi, nghỉ học.
Như vậy quy tắc hài thanh cho phép viết đúng chính tả 63 âm tiết “dấu ngã”.
Ngoài ra còn có 81 âm tiết “dấu ngã” dưới đây thuộc loại ít dùng: ngãi, tãi, giãn (dãn), ngão, bẵm, đẵm (đẫm), giẵm (giẫm), gẵng, nhẵng, trẫm, nẫng, dẫy (dãy), gẫy (gãy), nẫy (nãy), dẽ, nhẽ (lẽ), thẽ, trẽ, hẽm (hẻm), trẽn, ẽo, xẽo, chễng, lĩ, nhĩ, quĩ, thĩ, miễu, hĩm, dĩnh, đĩnh, phĩnh, đõ, ngoã, choãi, doãi, doãn, noãn, hoãng, hoẵng, ngoẵng, chõm, tõm, trõm, bõng, ngõng, sõng, chỗi (trỗi), giỗi (dỗi), thỗn, nỗng, hỡ, xỡ, lỡi, lỡm, nỡm, nhỡn, rỡn (giỡn), xũ, lũa, rũa (rữa), chũi, lũi, hũm, tũm, vũm, lũn (nhũn), cuỗm, muỗm, đuỗn, luỗng, thưỡi, đưỡn, phưỡn, thưỡn, chưỡng, gưỡng, khưỡng, trưỡng, mưỡu.
Tôi để ý thấy rất nhiều lỗi chính tả ở những âm tiết rất thường dùng sau đây: đã (đã rồi), sẽ (mai sẽ đi), cũng (cũng thế), vẫn (vẫn thế), dẫu (dẫu sao), mãi (mãi mãi), mỗi, những, hễ (hễ nói là làm), hỡi (hỡi ai), hãy, hẵng.
Cũng có những trường hợp ngoại lệ như:
* Dấu ngã: đối đãi (từ Hán - Việt), sư sãi (từ Hán - Việt), vung vãi (từ ghép), hung hàn (từ Hán - Việt), than vãn, ve vãn, nhão nhoét (so sánh: nhão nhẹt), minh mẫn (từ Hán - Việt), khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), riêng rẽ, ễng ương, ngoan ngoãn, nông nỗi, rảnh rỗi, ủ rũ...
* Dấu hỏi: sàng sảy (từ ghép), lẳng lặng, mình mẩy, vẻn vẹn, bền bỉ, nài nỉ, viển vông, chò hỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhẹ, sừng sỏ, học hỏi, luồn lỏi, sành sỏi, vỏn vẹn, mềm mỏng, bồi bỏ, chồm hổm, niềm nở, hồ hởi...
A.2. TỪ HÁN - VIỆT:
a. Dùng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là:
* Ch-: chuẩn, chỉ, chỉnh, chủ, chuẩn, chủng, chuyển, chưởng.
* Gi-: giả, giải, giảm, giản, giảng, giảo.
* Kh-: khả, khải, khảm, khảng, khảo, khẳng, khẩn, khẩu, khiển, khoả, khoản, khoảnh, khổ, khổng, khởi, khuẩn, khủng, khuyển, khử.
* Và các từ không có phụ âm đầu như: ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.
b. Dùng dấu ngã khi có phụ âm đầu là:
* D-: dã, dẫn, dĩ, diễm, diễn, diễu, dĩnh, doãn, dõng, dũng, dữ, dưỡng.
* L-: lãm, lãn, lãng, lãnh, lão, lẫm, lễ, liễm, liễu, lĩnh, lõa, lỗi, lỗ, lũ, lũng, luỹ, lữ, lưỡng.
* M-: mã, mãi, mãn, mãng, mãnh, mão, mẫn, mẫu, mỹ, miễn.
* N- (kể cả NH-NG): nã, não, ngã, ngãi, ngẫu, nghĩa, nghiễm, ngỗ, ngũ, ngữ, ngưỡng, nhã, nhãn, nhẫn, nhĩ, nhiễm, nhiễu, nhỡn, nhũ, nhũng, nhuyễn, nhưỡng, noãn, nỗ, nữ.
* V-: vãn, vãng, vẫn, vĩ, viễn, vĩnh, võ, võng, vũ.
c. 33 từ tố Hán - Việt có dấu ngã cần ghi nhớ (đối chiếu với bản dấu hỏi bên cạnh):
- Bãi: bãi công, bãi miễn.
- Bảo: bảo quản, bảo thủ / Bão: hoài bão, bão hộ
- Bỉ: bỉ ổi, thô bỉ / Bĩ: vận bĩ, bĩ cực thái lai
- Cưỡng: cưỡng bức, miễn cưỡng
- Cửu: cửu trùng, vĩnh cửu / Cữu: linh cữu
- Đãi: đối đãi, đãi ngộ
- Đảng: đảng phái / Đãng: quang đãng, dâm đãng
- Để: đại để, đáo để, triệt để / Đễ: hiếu đễ
- Đỗ: đỗ quyên
- Hải: hải cảng, hàng hải / Hãi: kinh hãi
- Hãm: kìm hãm, hãm hại
- Hãn: hãn hữu, hung hãn
- Hãnh: hãnh diện, kiêu hãnh
- Hoãn: hoãn binh, hoà hoãn
- Hổ: hổ cốt, hổ phách / Hỗ: hỗ trợ
- Hỗn: hỗn hợp, hỗn độn
- Huyễn: huyễn hoặc
- Hữu: tả hữu, hữu ích
- Kỷ: kỷ luật, kỷ niệm, ích kỷ, thế kỷ / Kỹ: kỹ thuật, kỹ nữ
- Phẫn: phẫn nộ
- Phẫu: giải phẫu
- Quẫn: quẫn bách, quẫn trí
- Quỷ: quỷ quái, quỷ quyệt / Quỹ: công quỹ, quỹ đạo
- Sỉ: sỉ nhục, liêm sỉ / Sĩ: sĩ diện, chiến sĩ, nghệ sĩ
- Tể: tể tướng, chúa tể, đồ tể / Tễ: dịch tễ
- Thuẫn: hậu thuẫn, mâu thuẫn
- Tiễn: tiễn biệt, thực tiễn, hoả tiễn
- Tiểu: tiểu đội, tiểu học / Tiễu: tuần tiễu, tiễu phỉ
- Tỉnh: tỉnh ngộ, tỉnh thành / Tĩnh: bình tĩnh, yên tĩnh
- Trĩ: ấu trĩ
- Trữ: tích trữ, trữ tình
- Tuẫn: tuẫn nạn, tuẫn tiết
- Xả: xả than / Xã: xã hội, xã giao, thị xã
A.3. TÓM LẠI
a. Từ láy:
- Các thanh “ngang” và “sắc” đi với thanh “hỏi”.
- Các thanh “huyền” và “nặng” đi với thanh “ngã”. Để cho dễ nhớ chúng ta có thể tóm gọn trong hai câu thơ sau:
“Chị Huyền vác nặng ngã đau
Anh Sắc không hỏi một câu được là”
(Hoàng Anh Tuấn)
b. Từ Hán - Việt phần lớn viết với “dấu hỏi” (trong tổng số yếu tố Hán - Việt, có 176 yếu tố viết “dấu hỏi”, chiếm 62%; 107 yếu tố viết “dấu ngã”, chiếm 38%), (Hoàng Phê, 6).
* Dùng “dấu hỏi” khi có phụ âm đầu là CH, GI, KH và các từ khởi đầu bằng nguyên âm hoặc bán nguyên âm như: ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.
* Dùng “dấu ngã” khi có phụ âm đầu là M, N (NH-NG), V, L, D, N (cho dễ nhớ tôi viết thành Mình Nên Viết Là Dấu Ngã) (Hoàng Anh Tuấn).
Như vậy chỉ cần nắm các qui tắc trên và nhớ 33 trường hợp đặc biệt viết với “dấu ngã” là có thể viết đúng chính tả toàn bộ 283 yếu tố Hán - Việt có vấn đề “hỏi - ngã” cũng coi như nắm được căn bản chính tả DẤU HỎI hay DẤU NGÃ trong tiếng Việt (Hoàng Phê, 1).
B. CÁC LỖI VỀ DẤU CÂU VÀ CÁCH TRÌNH BÀY
* Các dấu dùng để kết thúc câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu ba chấm) phải viết DÍNH LIỀN với chữ cuối cùng của câu.
- Ví dụ cách viết đúng: Hôm nay là thứ mấy? (dấu chấm hỏi viết sát chữ y)
- Ví dụ cách viết sai: Hôm nay là thứ mấy ? (dấu chấm hỏi viết cách chữ y một khoảng trắng)
* Các dấu dùng để ngăn cách giữa câu như dấu phẩy, dấu chấm phẩy và dấu hai chấm phải DÍNH LIỀN với vế trước của câu và CÁCH vế sau của câu một khoảng trắng.
- Ví dụ cách viết đúng: Đây là vế trước, còn đây là vế sau.
- Ví dụ cách viết sai: Đây là vế trước , còn đây là vế sau.
* Dấu ngoặc đơn và dấu ngoặc kép phải DÍNH LIỀN với phần văn bản mà nó bao bọc.
- Ví dụ cách viết đúng: Hắn nhìn tôi và nói “Chuyện này không liên quan đến anh!”
- Ví dụ cách viết sai: Hắn nhìn tôi và nói “ Chuyện này không liên quan đến anh! ”
C. NHỮNG TỪ NHIỀU NGƯỜI THƯỜNG VIẾT SAI
* “Dành” và “giành”:
- Dành: động từ mang nghĩa tiết kiệm, cất giữ hoặc xác định quyền sở hữu, chia phần cho ai đó. Ví dụ: để dành, phần này dành cho bạn (tương đương với “phần này thuộc về bạn”).
- Giành: động từ chỉ sự tranh đoạt. Ví dụ: giành giật, giành chính quyền.
* “Dữ” và “giữ”:
- “Dữ” là tính từ chỉ tính cách. Ví dụ: dữ dằn, giận dữ, dữ tợn, hung dữ, dữ dội…
- “Giữ” là động từ chỉ việc sở hữu, bảo vệ. Ví dụ: giữ của, giữ gìn, giữ xe, giữ đồ…
* “Khoảng” và khoản”:
- “Khoảng” để chỉ một vùng không gian, thời gian, độ dài bị giới hạn. Ví dụ: khoảng cách, khoảng không, khoảng thời gian.
- “Khoảng” cũng có khi được dùng để chỉ sự ước lượng. Ví dụ: Nhóm người đó có khoảng chục người.
- “Khoản” là một mục, một bộ phận. Ví dụ: tài khoản, điều khoản, khoản tiền.
* Số chẵn, số lẻ: Chẵn dấu ngã, lẻ dấu hỏi là đúng.
* Bán sỉ, bán lẻ: Cách viết đúng: Cả sỉ và lẻ đều là dấu hỏi.
* “Chẳng lẽ” (một từ thường đặt ở đầu câu, dùng để diễn tả suy đoán về một khả năng mà bản thân không muốn tin hoặc không muốn nó xảy ra):
Chẳng dấu hỏi, lẽ dấu ngã. Cái này ngược lại hoàn toàn với “số chẵn, số lẻ”.
* “Chuyện” và “truyện”: “Chuyện” là thứ được kể bằng miệng. “Truyện” là chuyện được viết ra và được đọc.
Ví dụ: “chuyện cổ tích” được kể dựa theo trí nhớ nhưng khi chuyện cổ tích được in vào sách thì nội dung được in đó gọi là “truyện cổ tích”. Và nếu có người đọc cuốn sách đó thì người đó đang đọc “truyện cổ tích”.
* “Sửa” và “sữa”:
- Sửa xe, sửa máy móc, sửa chữa là dấu hỏi.
- Sữa bò, sữa mẹ, sữa tươi, sữa chua là dấu ngã.
* “Chửa” và “chữa”:
- Chửa: đồng nghĩa với mang thai, là dấu hỏi.
- Chữa: đồng nghĩa với “sửa”, thường ghép với nhau thành từ ghép “sửa chữa” (lưu ý: sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã mặc dù hai từ này đồng nghĩa)
* “Dục” và “giục”:
- “Dục” nói về chức năng sinh lý của cơ thể hoặc ham muốn. Ví dụ: thể dục, giáo dục, tình dục, dục vọng.
- “Giục” nói về sự hối thúc. Ví dụ: giục giã, xúi giục, thúc giục.
* “Giả”, “giã” và “dã”:
- “Giả”: không phải thật nhưng trông giống thật. Ví dụ: hàng giả, giả dối, giả vờ
- “Giả” còn là một từ gốc Hán mang nghĩa “người”. Ví dụ: tác giả (người tạo ra), cường giả (kẻ mạnh), khán giả (người xem), diễn giả (người nói trước công chúng về một chủ đề nào đó).
- “Giã”: thường ghép với các từ khác. Ví dụ: giục giã, giã từ.
- “Dã”: mang tính chất rừng rú, hoang sơ, chưa thuần hóa. Ví dụ: dã thú, hoang dã, dã tính, dã man.
* “Sương” và “xương”:
- “Sương”: hơi nước xuất hiện vào buổi sáng sớm hoặc trong những hoàn cảnh thời tiết đặc biệt. Ví dụ: sương mù, giọt sương, hơi sương, sương muối.
- “Xương”: phần khung nâng đỡ cơ thể động vật. Ví dụ: bộ xương, xương bò, xương hầm.
* “Xán lạn”: “Xán lạn” là cách viết đúng. Cả “xán” và “lạn” đều là những từ gốc Hán. “Xán” là rực rỡ, “lạn” là sáng sủa. Tất cả các cách viết khác như “sáng lạn”, “sáng lạng”, “sán lạn”… đều là những cách viết chưa đúng. Đây là một từ khó, khó đến nỗi rất nhiều bài báo cũng dùng chưa đúng.
* “Rốt cuộc”: “Rốt cuộc” là cách viết đúng. Nhiều người thường hay viết sai từ này thành “rốt cục” hoặc “rút cục”.
* “Kết cục”: “Kết cục” là cách viết đúng. “Kết cuộc” là cách viết chưa đúng.
* “Xuất” và “suất”:
- “Xuất” là động từ có nghĩa là ra. Ví dụ: sản xuất, xuất hiện, xuất bản, xuất khẩu, xuất hành, xuất phát, xuất xứ, xuất nhập… “Xuất” còn có nghĩa là vượt trội, siêu việt. Ví dụ: xuất sắc, xuất chúng…
- “Suất” là danh từ có nghĩa là phần được chia. Ví dụ: suất ăn, tỉ suất, hiệu suất…
* “Yếu điểm” và “điểm yếu”:
- “Yếu điểm”: có nghĩa là điểm quan trọng. “Yếu điểm” đồng nghĩa với “trọng điểm”.
- “Điểm yếu”: đồng nghĩa với “nhược điểm”.
* “Tham quan”:
- Tham quan" nghĩa là xem tận mắt để mở rộng hiểu biết. “Tham quan” cách viết chưa chuẩn nhưng nghe lâu quen, còn "xe thăm quan” có thể hiểu thăm viếng một vị quan nào đó là cách viết chưa đúng.
D. MỘT SỐ QUY TẮC CHÍNH TẢ
* Ch/tr:
Chữ tr không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm như oa, oă, oe, uê. Do đó nếu gặp các vần này, ta dùng ch. Ví dụ: sáng choang, áo choàng, chích chòe, loắt choắt, chuệch choạc, chuếnh choáng…
Những từ Hán - Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thường có âm đầu tr. Ví dụ: trịnh trọng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu...
Những từ chỉ vật dụng quen thuộc hoặc các mối quan hệ trong gia đình thường có âm đầu là ch. Những từ mang nghĩa phủ định cũng có âm đầu là ch. Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo,... chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ,... cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt,… chẳng, chưa, chớ, chả.
* R/d/gi:
Chữ r và gi không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy). Do đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi. Ví dụ: dọa nạt, kinh doanh, duy trì, hậu duệ…
Trong các từ Hán - Việt:
- Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d.
Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu...
- Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi.
Ví dụ: giải thích, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác...
- Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có âm đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.
Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dương liễu, dư dật, ung dung...
E. BÍ QUYẾT VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
Có những lỗi chính tả chúng ta viết sai mà không biết mình viết sai. Những lỗi này thường do bạn đã quen thuộc với chúng trong thời gian dài nên dù sau khi viết xong đọc lại bạn cũng không phát hiện ra bởi bất cứ ai khi nhiễm một thói quen chưa tốt với thời gian dài rất khó sửa chữa. Tốt hơn hết bạn bớt nghe nhìn nhảm nhí hãy đọc những bài viết hữu ích và để người khác đọc bài viết của bạn nhờ họ góp ý. Sau khi đã biết được lỗi sai đừng bảo thủ hãy cố gắng ghi nhớ chúng để không phạm phải lần sau. Biết được cái mình chưa biết là đã biết rồi đó.
Tra từ điển tiếng Việt (nếu không có từ điển giấy, có thể tra từ điển online trên mạng) để kiểm tra những từ mà bạn không nhớ rõ cách viết hoặc những từ mà bạn nghi ngờ.
Có một số lỗi không phải do bạn sai chính tả mà do lỗi anh đánh máy. Sau khi nhờ đánh máy, bạn hãy kiểm tra lại cẩn thận bài viết của mình để tìm và sửa những lỗi này. Bất cứ ở đâu một văn bản xuất bản, biên tập viên chỉ chú ý nội dung cho đúng luật xuất bản, còn văn phong lỗi chính tả và ngữ pháp là của bạn.
PHAN LÊ (sưu tầm); NGƯỜI NƯỚC HUỆ (copy, hiệu chỉnh, và dán lên FB)
Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021
Bài học cần ghi nhớ: Trong kinh doanh đánh đúng vào nhu cầu của khách hàng.
Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021
TRÊN ĐỜI CÓ MƯỜI CÁI NGU THƯỜNG GẶP bạn nhất định phải né tránh nhé
Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2021
Tâm thư người mẹ gởi cho con yêu quý phương xa
Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021
Bài Thơ: SÀI GÒN BỆNH RỒI CẢ NƯỚC CÓ ĐAU KHÔNG? sáng tác bởi Cô giáo Lê Hương
Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021
Một câu lạc bộ thiện nguyện tiêu thụ 10.000 tấn khoai lang cho tỉnh Vĩnh Long
Từ ngày 25/5/2021 đến nay, Câu lạc bộ Thiện nguyện Bông Sen Trắng đã tiêu thụ 10.000 tấn khoai, trong đó 7.000 tấn đã được bán ra tới tay người tiêu dùng trên địa bàn TP.HCM.

Khoai lang được CLB thu mua tận vườn với giá 3.500 đồng/kg, sau khi trừ các chi phí đầu vào, được bán ra với nhiều mức giá: 1 kg/10.000 đồng, 3 kg/20.000 đồng, 10 kg/65.000 đồng, 20 kg/120.000 đồng, 100 kg/500.000 đồng, 1 tấn/3,6 triệu đồng.
Khoai lang tím được bán ra chủ yếu qua kênh bán hàng online, hình thức bán trực tiếp (tại 12 điểm trên địa bàn TP.HCM) tiêu thụ rất chậm.

Anh Bưởi, người phụ trách điểm bán khoai lang tại địa chỉ 42/3 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 12, quận Phú Nhuận cho biết, do ảnh hưởng của dịch nên mỗi điểm chỉ có khoảng 3 đến 5 thành viên tham gia nhưng chủ yếu hoạt động online, theo ước lượng có đến 90% đơn hàng online, chỉ có một số ít người dân đến mua trực tiếp.

Thầy Thích Đức Tịnh, Chủ nhiệm Câu lạc bộ thiện nguyện Bông Sen Trắng cho biết, hoạt động hỗ trợ tiêu thụ khoai lang nằm trong chuỗi sự kiện “nối vòng tay lớn” quy mô trên toàn quốc. Ngoài hỗ trợ bà con vượt qua khó khăn trong mùa dịch, nhóm hướng đến mục tiêu cao hơn là tìm đầu ra cho các loại nông sản để bà con yên tâm sản xuất.
Đặc biệt, thông qua hoạt động này cũng tạo việc làm cho nhiều lao động thất nghiệp trong mùa dịch, giúp các bạn có thêm chi phí trang trải cuộc sống.
Khoai lang rớt giá còn 600 đồng, nông dân lỗ nặng
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, diện tích khoai lang xuống giống bình quân hàng năm trên địa bàn từ 12.000-13.000 ha, ước sản lượng khoảng 360.000 - 390.000 tấn/năm.
Từ đầu năm đến nay, diện tích khoai lang xuống giống 7.052 ha, ít hơn cùng kỳ 2.212 ha. Hiện nông dân đã thu hoạch 2.922 ha, còn trên đồng 4.130 ha; trong đó, có 850 ha khoai vụ Đông Xuân đã hơn 4 tháng tuổi, tới thời điểm thu hoạch.
Hiện nay, theo thống kê, giá khoai lang tím Nhật chỉ khoảng 600 đồng/kg nhưng thương lái đã ngưng thu mua, với giá này, trồng mỗi công khoai, nông dân phải chịu lỗ từ 15 đến 20 triệu đồng.
Trước những khó khăn trên, các địa phương có diện tích trồng khoai trên địa bàn huyện Bình Tân đã vận động các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh hỗ trợ tiêu thụ nông sản cho người dân.
Vỹ Phượng - Hoàng Gia



















