Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Nhà báo dự một cuộc họp báo như thế nào?

Các cuộc họp báo thường được tổ chức khi một người có một cái gì đó để nói rằng đó là quan tâm đến các phương tiện truyền thông nhiều cửa hàng muốn làm cho một tuyên bố mở thay vì tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn với các phóng viên. Các cuộc họp báo thường mở cửa cho các nhà báo, nhưng đôi khi các thành viên của công chúng cũng được mời tham dự. Trừ khi người nói nếu không ra lệnh, các cuộc họp báo thường được cấu trúc, do đó bạn có thể đặt câu hỏi. Khi làm như vậy, giữ các qui tắc phù hợp các nghi thức trong tâm trí.

1. Hãy lắng nghe những gì người nói, và ghi chép cẩn thận. Các cuộc họp báo thường được định dạng với loa làm một tuyên bố và sau đó cho phép các câu hỏi để được yêu cầu. Vào một notepad, ghi lại những điểm quan trọng người nói và làm cho các bất kỳ word-by-word báo giá đúng nguyên văn mà có thể có liên quan đến câu chuyện bạn đang viết hay nguyên nhân bạn đang đại diện.

2. Xác định xem có bất kỳ thông tin đã được khai mạc hội nghị của báo cáo tin tức đó là thích hợp đến chủ đề ở bàn tay. Điều này có thể bao gồm chi tiết về làm thế nào hoặc một cái gì đó xảy ra hoặc tại sao một người đang hành xử theo một cách nhất định. Viết ra bất kỳ câu hỏi mà bạn có thể hình thành như là một lời nhắc nhở các câu hỏi của bạn. Các cuộc họp báo có thể có nhịp độ nhanh, do đó, có ghi chú tiện dụng như là một tài liệu tham khảo có thể hữu ích.

3. Nâng cao tay của bạn và chờ đợi cho người thực hiện các cuộc họp báo để xác nhận rằng bạn có một câu hỏi. Nếu cuộc họp báo được đông đúc, bạn có thể có một cách lịch sự chờ đợi và lắng nghe trong khi những người khác đặt câu hỏi. Một khi người nói chỉ theo hướng của bạn, nó là của bạn.

4. Nói to lên và tự giới thiệu mình bằng cách nói tên của bạn và các phương tiện truyền thông của bạn hoặc liên kết của công ty, nếu có, nếu bạn chưa bao giờ gặp người tiến hành cuộc họp báo hoặc nếu bạn có thể phần lớn là không quen thuộc với những người khác trong phòng. Nếu bạn là phóng viên một đài phát thanh hoặc truyền hình hoặc nếu có phát sóng các phóng viên tham dự, nói to để micro có thể chọn những gì bạn đang yêu cầu.

5. Hãy hỏi câu hỏi của bạn trong 1 hoặc 2 câu. Đây là cuộc họp báo chung nghi thức để giữ cho câu hỏi ngắn, đến các điểm-và về chủ đề. Nếu bạn có câu hỏi cho người không liên quan đến chủ đề của cuộc họp báo, nghi thức chung là để chờ đợi cho đến khi kết thúc tất cả các câu hỏi để hỏi câu hỏi không liên quan, hoặc kéo đối tượng sang một bên sau khi cuộc họp báo kết thúc cho một cuộc trò chuyện riêng.

6. Cảm ơn người cho cho phép bạn đặt câu hỏi, và hỏi bất kỳ câu hỏi khác mà bạn có.

Mẹo:

Hãy lịch sự khi nghe những gì được nói và khi đặt câu hỏi. Ngay cả khi cuộc họp báo là về một chủ đề gây tranh cãi, đó là nghi thức thích hợp để tỏ ra lịch sự ở tất cả các lần.

- Nếu bạn không phải là thành viên của các phương tiện truyền thông, lịch sự chờ đợi cho đến khi các thành viên chính thức của các phương tiện truyền thông đặt câu hỏi của họ trước khi đặt ra của bạn.

Vấn đề phong bì cũng khá quan trọng. Tôi nói vậy có đúng không? Yes/No?

Nguồn KHIÊM Nguyễn

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

PR & Báo chí: Đâu là sự thật cho công chúng?

Nhiều khi hoạt động PR với những sự thật méo mó nhưng đã trở nên rất tinh vi, khiến ngay cả những biên tập viên tự cho là mình cực thính trong việc "ngửi mùi PR" cũng bị qua mặt.

Trong nhiều cuốn giáo trình dạy viết báo của một số trường đại học của Mỹ thường cảnh báo những người làm báo, những sinh viên khoa báo chí, rằng: các công ty PR (Public Relation - quan hệ công chúng), những nhân viên PR ở các doanh nghiệp là những tổ chức, cá nhân luôn có âm mưu "quảng cáo không mất tiền". Tuy nhiên, nhiều cuốn sách vẫn dành cả một chương để hướng dẫn sinh viên báo chí cách xử lý thông tin từ các thông cáo báo chí, cách viết tin PR... hẳn nhiên coi PR là một kênh tiếp cận, cung cấp thông tin cần khai thác.

Hoạt động PR theo đúng nghĩa của nó, rất đa dạng, không chỉ là quan hệ với báo chí (Press Relation) mà còn với nhiều tổ chức, cá nhân như quan hệ của một công ty với khách hàng, người tiêu dùng... với ý nghĩa chung là hướng tới, tạo ra sự thiện cảm giữa một tổ chức, một cá nhân với cộng đồng, với đối tượng mà hoạt động PR đó phải hướng tới. Báo chí là một kênh quan trọng trong hoạt động PR, thậm chí, đối với nhiều doanh nghiệp, tổ chức thì báo chí là một trong những kênh quan trọng nhất để tạo nhằm giúp họ tạo dựng hình ảnh, thương hiệu, quan hệ tốt đẹp với cộng đồng, khách hàng.

Nếu như cách đây hơn 10 năm, tại Việt Nam mới chỉ có vài công ty chuyên về PR với những hoạt động còn khá sơ khai thì đến nay, tại TP Hồ Chí Minh hay Hà Nội, mỗi nơi đều có hàng chục công ty chuyên về hoạt động PR, trong đó báo chí, truyền hình là những kênh tiếp cận quan trọng nhất của các công ty này.

Nhiều bộ, ngành, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp trong hay ngoài nhà nước do thiếu kinh nghiệm, nguồn lực (con người), thiếu mối quan hệ với báo chí... đã thông qua các công ty PR để thực hiện việc tuyên truyền về các hoạt động, thành tích, các sản phẩm, dịch vụ...của mình, hướng thông tin, dư luận theo ý muốn.

Khá nhiều tập đoàn, doanh nghiệp đã thành lập phòng, ban thông tin-truyền thông, tuyển dụng những người chuyên làm công tác truyền thông mà cánh phóng viên nay đã quen gọi những người làm trong các phòng, ban này là nhân viên PR. Nhiều nhân viên, cán bộ PR đó thậm chí còn được trả lương, có chế độ đãi ngộ cao hơn hẳn các cán bộ, nhân viên ở các bộ phận đó, chỉ đề thực hiện một công việc: làm sao cho ít các bài báo, ít nhà báo viết những bài báo có nội dung phê phán, chê nhiều hơn khen...mà lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp đó không thích và có nhiều hơn các tin, bài tuyên truyền tốt cho kết quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của ngành, đơn vị mình. Còn nếu nhân viên PR không làm được điều đó, họ rất nhanh chóng bị sa thải.

Có tập đoàn, trong năm 2009 đã liên tục sa thải nhân viên làm PR vì cho rằng những nhân viên này không làm được điều mình muốn: cải thiện quan hệ với báo chí.

Có doanh nghiệp lớn vốn chịu nhiều điều tiếng đã có lúc, theo đề xuất của bộ phận PR, chịu chi tới mức sẵn sàng hỗ trợ hàng tỷ đồng cho một vài báo hay công kích mình gọi là "hỗ trợ công tác tuyên truyền" chỉ với một ý: tôi tài trợ khoản đó để bên ông viết về những việc bên tôi làm tốt. Còn việc dở, ông viết bài "đánh" tôi cũng được nhưng trong những bài viết ấy, hãy để tôi có tiếng nói phản biện lại những ý phê phán (có thể sai) với cơ quan tôi. Như vậy, thật khó mà từ chối.

Một biên tập viên tờ báo cho biết: "Năm ngoái, mình bò nhoài cả năm, vạch ra đủ loại tin, bài mới giải ngân được hết số tiền hỗ trợ tuyên truyền cho cái ngành ấy. Năm nay, nó rút còn có hơn 100 triệu nên mới thả phóng viên đả cho nó vài phát".

Ở Việt Nam, đến nay có thể nói, quan hệ PR với báo chí cũng đã phát triển ở mức rất sâu rộng. Những tin bài có nội dung thông tin lấy từ các buổi họp báo, các thông cáo báo chí, các hoạt động PR... chưa ai thống kê được nhưng chắc chắn đã và đang chiếm tỷ lệ đáng kể trên rất nhiều tờ báo. Nhiều tờ báo mở ra các trang chuyên đăng các tin, bài PR và những tin, bài đó thường hay đi kèm với các chương trình quảng cáo, tài trợ từ các đơn vị, doanh nghiệp được đưa tin, bài tuyên truyền.

Mức độ sâu sắc của hoạt động PR có thể thấy ở ngay việc có tác phẩm được giao giải thưởng lớn của giải báo chí quốc gia thực chất cũng là kết quả hoạt động PR.

Cho nên, ở khía cạnh nào đó, có thể nói báo chí hiện nay gần như không thể tách rời hoàn toàn với hoạt động truyền thông của các công ty PR, các phòng PR, nhân viên làm PR của các tập đoàn, các tổng công ty, doanh nghiệp, các bộ, ngành...Và với bất cứ một người làm báo nào, thật khó để nói rằng, tôi hoàn toàn không bao giờ quan hệ hay cần sự giúp đỡ của bất cứ một công ty PR, một nhân viên PR nào...

Mối quan hệ PR và báo chí cũng có một số khía cạnh tích cực, ít nhất có thể coi đó là một kênh thông tin cần thiết với người làm báo (một khi bộ phận PR, công ty PR đã được tổ chức, cá nhân nào đó uỷ quyền toàn bộ việc hợp tác, cung cấp thông tin cho báo chí) cho dù, về chất lượng thông tin, độ sâu của thông tin, vấn đề do PR cung cấp không sâu sắc bằng những nguồn tin truyền thống khác của báo chí.

Nhưng dường như mối quan hệ này vẫn đang diễn biến theo chiều hướng lệch lạc nhất định. Lãnh đạo nhiều cơ quan báo chí không muốn phóng viên của mình quá lệ thuộc vào các thông cáo báo chí, các tư liệu chỉ do các công ty PR, các phòng PR, nhân viên PR cung cấp. Bởi nhiều người quan niệm rằng, dù thế nào, trong các thông tin từ các công ty PR, các nhân viên PR... luôn ẩn chứa khả năng thông tin thiếu khách quan, trung thực bởi hoạt động PR là luôn hướng báo chí, dư luận tin vào những mặt tích cực, được tô vẽ của chủ thể muốn thông tin, tuyên truyền, khuếch đại những cái hay của các sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp và che lấp những khiếm khuyết, yếu kém của các đơn vị đó.

Có những ban biên tập phải ra cảnh báo yêu cầu phóng viên không được làm tin, bài PR cho các đơn vị và nếu có làm thì buộc các tin, bài PR đăng ở trang, mục nhất định của báo quy định và công ty nào nhờ vả đưa tin, bài PR đó phải trả tiền, thậm chí cao hơn nhiều giá quảng cáo.

Thái độ cảnh giác của nhiều biên tập viên với tin, bài PR cũng có cơ sở ở chỗ, nhiều khi hoạt động PR với những sự thật méo mó nhưng đã trở nên rất tinh vi, khiến ngay cả những biên tập viên tự cho là mình cực thính trong việc "ngửi mùi PR" cũng bị qua mặt.

Có những thời điểm, người đọc để ý chút sẽ thấy rất ngạc nhiên tại sao ngày hôm đó, đồng loạt nhiều tờ báo đưa tin, bài về kết quả kiểm tra chất lượng sữa của các công ty sữa trong nước mà kết quả đó cho thấy, một số hàm lượng dinh dưỡng không đạt tiêu chuẩn. Ở đây, rất có thể đã có một công ty PR được các công ty sữa bột nước ngoài thuê để báo chí viết bài công kích để người tiêu dùng tẩy chay sản phẩm sữa nội. Dấu hiệu là, ở các bài báo này là đều đăng những câu hỏi, câu trả lời giống hệt nhau từ một số người cung cấp thông tin, thậm chí có những đoạn viết giống hệt nhau (do cùng copy từ tư liệu, bản thông cáo do công ty PR cung cấp).

Có không ít phóng viên hiện nay có thu nhập chính từ việc ăn lương, nhận tiền công tuyên truyền, làm đầu mối tổ chức tin cho các công ty PR. Bởi việc hợp tác với các công ty PR thường đem lại những lợi ích lớn: những chuyến đi tham quan không mất tiền ở trong và ngoài nước, các khoản tiền, phong bì được trả cho những tin, bài tuyên truyền, nêu được nhiều mặt tốt ở doanh nghiệp, đơn vị chi tiền PR...

Nếu để ý kỹ, có những tay viết khá tốt trong một số lĩnh vực như viễn thông, công nghệ thông tin nhưng đồng thời ăn lương tháng để làm PR cho một doanh nghiệp nào đó thì trong hầu hết các bài viết của mình, luôn tìm cách chèn các ý, các đoạn để ca ngợi, lăng xê cho công ty mình nhận làm PR. Ví dụ, phóng viên một tờ báo mạng làm PR cho Mobifone thì nếu viết các bài về cạnh tranh trong thị trường dịch vụ viễn thông thì nhất định phóng viên đó sẽ có vài đoạn khen khéo cho Mobifone và chê bai đối thủ của công ty này. Hầu hết những người làm biên tập hiện nay rất khó phát hiện cách làm này.

Thậm chí, không phải không có những đơn vị, cá nhân làm PR hướng hoạt động một số nhà báo, phóng viên theo hướng tiêu cực, có thể bị coi là phạm pháp như trả tiền thuê cả nhóm viết bài phê phán, "đánh hội đồng" (nhiều báo đăng), "xa luân chiến" (từng báo viết)...một tổ chức, cá nhân nào đó có lợi ích mâu thuẫn với mình.

Những người làm báo lâu năm cũng phải thừa nhận, hoạt động PR nhiều khi rất hữu ích bởi có khá nhiều thông tin, nội dung cần tuyên truyền, giới thiệu qua các công ty PR, các nhân viên pr là những thông tin đúng, khách quan (cho dù, có thể nhiều khi những thông tin đó bị thổi phồng quá mức) và chúng cũng rất cần được biết tới như sự kiện khai trương một đường bay, một hãng hàng không mới; ra mắt các sản phẩm, dịch vụ mới đem lại lợi ích cho người tiêu dùng; các sự kiện kinh tế, văn hoá, lễ hội đặc sắc...Cho nên, cũng không thể nào từ chối, đoạn tuyệt quan hệ với PR.

Vấn đề ở đây là người viết báo chỉ nên coi đó là một nguồn trong số nhiều nguồn tin của mình, phải tìm hiểu, chọn lọc, đối chiếu và bổ sung thông tin để đảm bảo có một bài báo, một bản tin trung thực, đầy đủ chứ không phải copy, xào xáo một cách sơ sài các bản thông cáo báo chí (phần lớn còn thiếu thông tin, thông tin lệch lạc, chưa khách quan...) do các công ty, các bộ phận PR của các tổ chức, cá nhân đưa ra.

Và ngay cả trong việc nhà báo, phóng viên làm đầu mối PR thì cũng không phải điều đó hoàn toàn là tiêu cực bởi nhiều người có quan niệm, PR cũng là một nghề, một dịch vụ cho một doanh nghiệp, một tổ chức mà người làm báo có thể làm thêm. Nhưng sa đà vào việc "làm thêm" đó, người làm báo chắc chắn dần dần rời xa thiên chức của mình và dễ bị đi theo một xu hướng khá rõ của nghề PR: thiếu tính trung thực, khách quan và điều này là xa lạ với bản chất của nghề báo.


Nhân viên một công ty PR có tiếng tại Hà Nội đưa ra một nhận xét: những người làm trong ngành PR, chưa hiểu rõ bản chất của nghề thì đôi khi cũng chán nghề, coi công việc của mình là "đi lừa" công chúng và tự cảm thấy có lỗi với lương tâm. Nhưng làm PR đích thực là phải làm trung gian tốt giữa các doanh nghiệp và các báo, là nhà tư vấn cho các doanh nghiệp và đầu mối tin cậy của các báo.

Theo cô "PR" này, báo chí là một công cụ/ kênh hữu ích/ đối tác của PR nhưng đôi khi cũng là "đối thủ khó lường" với dân PR. Nhiều trường hợp các báo đi vòi vĩnh PR bằng cách doạ dẫm sẽ "đánh" doanh nghiệp.

Đôi khi, báo chí trong việc viết bài nhưng nếu thông tin đó mới chỉ là ý kiến chủ quan từ một phía và không có dẫn chứng rõ ràng thì công ty PR, trong quan hệ với báo, sẽ giúp doanh nghiệp lên tiếng nói bảo vệ chính mình.

Tuy nhiên, thực tế cũng có chuyện, bằng cách này, có những cá nhân, đơn vị báo chí thông qua các đơn vị PR mà "xin xỏ" được những khoản tiền kếch xù từ doanh nghiệp. Có báo còn thẳng thừng nói "nếu doanh nghiệp mua quảng cáo bên tôi thì doanh nghiệp là đối tác của chúng tôi. Đã là đối tác thì chắc chắn chúng ta sẽ "giữ gìn" cho nhau."

Nguồn theo 

Khiêm Nguyễn 

Thuật Ngữ báo chí Anh việt cần biết


Để phục vụ việc học tập và nghiên cứu, bất cứ ai cũng phải bắt đầu bằng những khái niệm và thuật ngữ liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của mình. Với Báo chí học cũng vậy. Đây là bảng tổng hợp một số thuật ngữ liên quan trực tiếp đến hoạt động của các nhà báo và của các nhà nghiên cứu về báo chí, truyền thông.

Absolute privilege

Đặc quyền tuyệt đối - quyền của các nhà lập pháp, thẩm phán và người điều hành chính phủ được phát biểu trong khi đang thực thi trách nhiệm mà không sợ phạm vào tội phỉ báng.

Absolutism

Chủ thuyết tuyệt đối - một triết lý đạo đức không chấp nhận bất kỳ sự sai lệch nào đối với một tập hợp các nguyên tắc hay luật lệ đã định sẵn. Đối với một nhà báo theo chủ nghĩa tuyệt đối (absolutist jour­nalist), cứu cánh không bao giờ biện minh cho phương tiện.

Actual malice

Ác ý cố tình - liều lĩnh bất chấp sự thật. Đây là một tình thế trong các vụ kiện tụng về tội phỉ báng.

Actual malice test

Kiểm tra ác ý cố tình - biện pháp bảo vệ để phóng viên có thể viết bất kỳ điều gì về một người cầm quyền đương tại chức hay một ứng cử viên trong trường hợp phóng viên vô tình sử dụng các nguồn tư liệu không xác thật hay liều lĩnh bất chấp sự thật.

Act

Quảng cáo - viết tắt của advertisement.

Add

Trang bổ sung - trang đánh máy bản thảo theo sau trang đầu tiên. “Firstadd” sẽ là trang thứ hai của một bản thảo đánh máy.

Advance

Đưa tin trước - một bài tường thuật đề cập đến những vấn đề hay chủ đề sẽ được giải quyết trong một cuộc họp hay sự kiện sắp xảy ra.

Advertisement department

Phòng quảng cáo - một phòng ban của tờ báo chịu ưách nhiệm quảng cáo. Hầu hết các phòng quảng cáo đều có bộ phận riêng cho các mẫu rao vặt và quảng cáo nổi bật.

Anchor

Biên tập viên bản tin truyền hình - một biên tập viên trong trường quay của đài truyền hình chuyên kết nối các tin thời sự bằng cách đọc tin và dẫn dắt từ tin này sang tin khác.

Anecdotal lead

Dẫn nhập bằng câu chuyện - một bài báo được mở đầu bằng cách sử dụng một câu chuyện lý thú hay hài hước.

Anecdote

Mẩu chuyện - một câu chuyện thú vị và chứa đựng nhiều thông tin nằm trong một bài báo.

Angle

Góc nhìn chủ đạo - điểm tập trung hay cách tiếp cận một đề tài. Hướng phát triển mới nhất của một cuộc tranh luận kéo dài, một pha then chốt trong một trận đấu thể thao, hay bi kịch của một cái chết đặc biệt trong một thảm họa đại chúng đều có thể dùng làm góc nhìn chủ đạo.

Antinomianism:

Thuyết phản hệ - một triết lý đạo đức không công nhận bất kỳ nguyên tắc nào. Một nhà báo theo thuyết phản hệ (antinomian jour­nalist) thẩm định từng tình huống đạo đức theo những giá trị riêng biệt; tình yêu đồng loại không phải là giá trị tuyệt đối.

AP

Hãng thông tấn AP - viết tắt của The Asscociated Press, một hãng tin hoạt động khắp thế giới dưới hình thức hợp tác mà chủ sở hữu của hãng tin này chính là các tờ báo đãng ký mua tin dài hạn.

APME

Hiệp hội các chủ bút của hãng thông tấn API viết tắt của Associated Press Managing Editors, một tổ chức của các chủ biên và biên tập viên cùa các tờ báo là thành viên của hãng thông tấn AP.

 Arraignment

Luận tội - một tiến trình tòa án khi bị đơn được thông báo lời buộc tội. Trong tiến trình này, bị đơn được quyền yêu cầu biện hộ và có thể được quyền tại ngoại hậu tra.

Average

Trung bình, bình quân - một thuật ngữ dùng để mô tả các thành phần tiêu biểu hay điển hình của một tập thể. Trong toán học, đây là kết quả của một tổng số chia đều cho các thành phần trong tập hợp.

Background

Cơ sở thông tin - thông tin có thể được gán cho một nguồn tin chỉ có chức vụ chứ không nêu rõ họ tên; ví dụ “a White House aide said” (một trợ lý Nhà Trắng đã cho biết).

Backgrounder

Thông tin tư liệu - bài báo giải thích và cập nhật tin tức.  

Beat

Chuyên ngành - lãnh vực trách nhiệm được phân công cho phóng viên. Chuyên ngành có thể là một cơ quan; chẳng hạn như các tòa án; một khu vực địa lý; chẳng hạn như một thị trấn; hay một chủ đề; chẳng hạn như khoa học. Trong báo chí Mỹ, “beat” còn dùng để chỉ một bài báo độc quyền.

Blotter

Phiếu câu lưu - một thuật ngữ đã lỗi thời chỉ những phiếu ghi tóm tắt thông tin cơ bản của một vụ bắt giam. Những thông tin này ngày nay luôn được lưu trong máy tính.

Books

Tập giấy nháp - những tờ giấy, thường là giấy in báo, và giấy than, để phóng viên chuẩn bị bài viết. Trong quy trình vi tính hóa hiện đại ngày nay thì người không còn dùng những tập giấy này nữa.

Brightener

Bài thư giãn, thay đổi không khí - một câu chuyện, thường là ngắn, có tính hài hước hay thú vị đối với độc giả. Còn gọi là là bright.

Bureau

Văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện - văn phòng của một cơ quan thông tấn nằm ở những khu vực khác ngoài trụ sở chính. Các tờ báo hay hãng tin có thể có văn phòng chi nhánh ở nhiều khu vực trong nước hayở nước ngoài.

Bureau chief

Trưởng chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện - người điều hành hoạt động nghiệp vụ của một tờ báo ở văn phòng chi nhánh.

Business department

Phòng tài vụ - một phòng ban trong một tờ báo chuyên làm công tác hóa đơn, kế toán và những chức năng liên quan.

Byline

Dòng ghi tên tác giả - thường nằm dưới tựa đề hoặc ở cuối một bài báo.

Caption

Chú thích ảnh

Chain

Báo liên hiệp - hai hay nhiều tờ báo có cùng một chủ hay một công ty sở hữu. Còn gọi là group. Tại Mỹ, Gannett là công ty báo liên hiệp lớn nhất.

Change of venue

Đổi quyền tài phán - giao vụ kiện cho một tòa án khác xét xử. Điều này thường xảy ra khi một bên liên quan trong vụ kiện khẳng định rằng việc tường thuật của báo chí địa phương đã tạo sẵn định kiến cho các thành viên ban hội thẩm tương lai

Circulation department

Phòng phát hành - bộ phận của một tờ báo chịu trách nhiệm việc phân phối báo ra thị trường.

City editor

Trưởng ban địa phương - còn gọi là metropolitan editor hay metro editor,chịu trách nhiệm một ban điều phối hoạt động thu thập tin tức địa phương, ở một số tờ báo Mỹ, ban địa phương còn xử lý cả tin khu vực và tin của tiểu bang

Civil law

Dân luật, luật dân sự - một quy chế cho phép một cá nhân hay tập thể có quyền khởi kiện một cá nhân hay tập thể khác.

Clips

Mẩu báo - tin hay bài cắt từ báo.

Close-ended question

Câu hỏi đóng - một câu hỏi trực tiếp, tính trước nhằm rút được một câu trả lời cụ thể. Chẳng hạn “Will you be a candidate?” (Ông có ra ứng cử không?).

Conditional privilege

Đặc quyền có điều kiện.

Consumer Price Index

Chỉ số giá tiêu dùng - viết tắt là CPI, một phương tiện được chính phủ Mỹ sử dụng để đo lường tỷ lệ lạm phát. Những số liệu CPI được Cục Thống kê Lao động (Bureau of Labor Statistics) thuộc Bộ Lao động Mỹ báo cáo hàng tháng, đối chiếu sự thay đổi thực trong giá cả giữa thời điểm hiện hành và một thời điểm cụ thể làm cơ sở. Phóng viên Mỹ thường dùng chỉ số CPI để phản ánh chính xác giá thành thực tế của hàng hóa và dịch vụ.

Contributing editor

Cộng tác viên giữ mục - một người người phụ trách một mục thường xuyên trên tạp chí nhưng làm việc theo hợp đồng chứ không phải là nhân viên của tòa soạn.

Copy

Tin bài, bán tháo - những gì phóng viên viết ra và đã giao nộp cho tòa soạn.

Copy desk:

Phòng biên tập - bộ phận biên tập lần cuối củng mọi tin bài viết các tít lớn và thiết kế trang báo.

Copy editor

Biên tập viên, trưởng trang - người kiểm tra, trau chuốt và điều chỉnh các tin bài của phóng viên, ở các báo Mỹ, thường biên tập viên là người viết tít tựa cho các tin bài này, và đôi khi quyết định cả việc bố trí tin bài và hình ảnh như thế nào trên trang báo.

Cover

Bám, theo dõi - luôn đi cùng những hướng phát triển mới nhất của một chuyên ngành hay để tường thuật một sự kiện đặc biệt. Phóng viên theo dõi ngành cảnh sát có thể được phân công tường thuật một vụ giết người.

Criminal law

Hình luật, luật hình sự - một quy chế cho phép hội thẩm đoàn hay một viên chức tòa án có thể truy tố một cá nhân.

Cub

Phóng viên tập sự.

Cutline

Phú thích ảnh - một thuật ngữ đã lỗi thời, bắt nguồn từ khi các hình ảnh đăng báo hay tạp chí phải được khắc trên bản kẽm; một bản kẽm như vậy được gọi là một cut.

Database

Cơ sở dữ liệu - một ngân hàng thông tin được vi tính hóa, thường được các tờ báo hay các cơ quan thuê bao truy cập.

Deadline

Thời hạn chót - thời hạn mà các phóng viên, biên tập viên, hay phụ trách trang mục phải hoàn tất công việc theo kế hoạch ra báo.

Deep background

Cơ sở ẩn danh ở nguồn thông tin có thể sử dụng nhưng không được nêu rõ danh tính hay chức vụ của người cung cấp thông tin.

Delay-identification lead

Đoạn chủ đạo không tiết lộ ngay nhân vật, mở đầu ẩn danh - đoạn mở đầu của một bài báo mà yếu tố “ai” không được nêu tên mà chỉ được đề cập bằng nghề nghiệp, thành phố, cơ quan hay bất kỳ hình thức nào khác.

Desk

Ban biên tập - một từ thường được các phóng viên báo Mỹ sử dụng để chỉ chức vụ biên tập viên tin thời sự địa phương hay người phụ trách trang mục.

Desk assistant

Trợ lý biên tập - một chức vụ cấp thấp nhất trong phòng tòa soạn của một đài truyền hình. Trợ lý biên tập thường xử những công việc phân công làm tin thường nhật chẳng hạn như theo dõi tin của các hãng thông tấn và lắng nghe máy dò tin của cảnh sát.

Developing story

Câu chuyện đang diễn tiến - một sự kiện đáng đưa tin đang diễn ra trong nhiều ngày hay nhiều tuần.

Dialogue

Đối thoại - cuộc nói chuyện giữa hai hay nhiều người được đưa vào bài viết nhưng thường thì phóng viên không tham gia vào cuộc đối thoại.

Dig

Đào sâu - phỏng vấn và điều tra kỹ hơn.

Documentary

Phim tài liệu - tường thuật sâu rộng một sự kiện hay một vấn đề, từ này thường chỉ dùng cho truyền hình.

Editor

Biên tập viên - từ này dùng để chỉ người biên tập ở mọi cấp độ; đôi khicòn là cách gọi tắt của từ editor in chief tức là tổng biên tập hay chủ bút.

Editorial department

Phòng thư ký tòa soạn, ban biên tập - bộ phận làm tin bài của một tờ báo, chịu trách nhiệm mọi nội dung của tờ báo, ngoại trừ quảng cáo.

Editorialize

Xã luận hóa, nêu quan đỉểm cá nhân khi đưa tin - đưa ý kiến riêng của phóng viên hay của tờ báo vào nội dung bản tin, bài báo hay các dòng tít. Hầu hết các nhật báo Mỹ đều hạn chế chỉ nêu quan điểm trong những bài phân tích, các chuyên mục hay các bài xã luận.

Editorial page editor

Biên tập viên trang xã luận cá nhân chịu trách nhiệm trang xã luận và, ở các tờ báo lớn, trang op-ed tức là trang dành cho chuyên mục, ý kién độc giả và chân dung nhân vật.

Executive producer

Giám đốc sản xuất chương trình - một chức vụ điều hành trong đài truyền hình chịu trách nhiệm chung cho hình thức và nội dung cùa bản tin thời sự truyền hình.

Fair comment and

criticism

Phê phán và nhận định vô tư - những ý kiến như vậy được pháp luật Mỹ bảo vệ nếu như phóng viên không trình bày sai những cứ liệu dùng làm cơ sở cho các nhận định và phê phán, và không có ác ý.

Felony

Trọng tội, trọng án - những tội nặng có thể bị trừng phạt bằng án tử hinh hoặc cấm cố.

Field experiment

Thử nghiệm thực tế - một kỹ thuật nghiên cứu sử dụng khi phóng viên cố tình tạo tác động để quan sát hiệu quả phát sinh. Chẳng hạn, phóng viên có thể đưa một chiếc xe hơi đã được tinh chỉnh hoàn hảo đến nhiều hiệu sửa xe khác nhau để xem các thợ máy có tạo ra những sự cố buộc phải sửa chữa hay không.

Field producer

Phóng viên khảo sát - một phóng viên truyền hình đứng trong hậu trường, là người thường làm tất cả những chuyện khảo sát thực tế để sẵn sàng cho các phóng viên quay phim và lên hình trực tiếp tại hiện trường.

Follow

Bài tiếp nối - bài báo cung cấp thêm thông tin về một việc đã được đăng tải trước đó; viết tắt là folo. Còn gọi là update.

Foreshadowing

Nhử mồi - một kỹ thuật dẫn dụ độc giả đọc tiếp để biết những thông tin sẽ xuất hiện ở phần sau của bài báo.

Freedom of Information Act

Đạo luật Tự do Thông tin - Một đạo luật của Mỹ được thông qua năm 1966 giúp cho việc thu thập thông tin từ các cơ quan công quyền liên quan dê dàng hơn. Luật này được tu chỉnh năm 1974 để nâng cao khả năng tiếp cận các hồ sơ lưu trữ của chính phủ Mỹ.

Futures file

Hồ sơ theo dõi tin tức một tập hợp xếp theo ngày tháng những mẫu cắt từ báo, thư từ, ghi chú và các thông tin khác để nhắc các biên tập viên nhớ phân công phóng viên theo dõi. Còn gọi tickler. 

Feneral manager,

Tổng giám đốc, chủ nhiệm - cá nhân chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của một tờ báo. Một số liên hiệp báo chí Mỹ dùng từ này để gọi người lãnh đạo cao cấp nhất của mỗi khu vực.

Graf

Đoạn văn - viết tắt của paragraph.

Graphic designer

Họa sĩ trình bày.

Graphic editor

Biên tập viên mỹ thuật thường là một biên tập viên chịu trách nhiệm với tất cả những hình minh họa không phải là ảnh chụp trong một tờ báo, bao gồm các đồ thị thông tin, bản đồ và hình minh họa.

Handout

Xem news release.

Hard lead

Mở đầu trực tiếp, nhập đề trực khởi - đoạn mở đầu của bản tin hay bài báo nêu ngay những hướng phát triển mới hay những cứ liệu mới khám phá. Xem thêm soft lead,

Hard news

Tin cứng, tin nóng - còn gọi breaking news, những tin bài tường thuật các hoạt động của chính phủ hay doanh nghiệp; hay các sự kiện chẳng hạn như tội ác, tai nạn hoặc bài diễn văn. Yếu tố thời gian thường rất quan trọng đối với loại tin này. Xem thêm soft news,

Human-intereststory

Tin bài bạn đọc quan tâm - loại tin bài có giá trị vì gây tác động cảm xúc đối với độc giả hay vì những chuyện kỳ cục chứ không phải do tầm quan trọng của nội dung thông tin.

Hypothesis

Giả thuyết - trong các bài phóng sự điều tra, giả thuyết chính là vấn đề cần được xác minh.

Immediate-identification lead

Đoạn chủ đạo tiết lộ ngay nhân vật, mở đầu đích danh - đoạn mở đầu của một bài báo mà yếu tố “ai” được nêu tên cụ thể.

Indictment

Cáo trạng - vãn bản do bồi thẩm đoàn ban hành xác nhận đã đủ chứng cứ về tội trạng để truy tố người nào đó.

Inflation

Lạm phát - xem thêm Consumer Price Index.

Information graphic

Dữ liệu thể hiện dưới dạng đồ họa, đồ thị.

Invasion of privacy

Xâm phạm quyền riêng tư.

Inverted pyramid

Hình tháp ngược - cấu trúc của một bài báo mà các thông tin được sắp xếp theo thứ tự mức độ quan trọng.

Investigating reporting

Phóng sự điều tra - những bài báo đeo đuổi, truy tìm những thông tin đang bị che giấu, chẳng hạn bằng chứng của những việc làm sai trái.

IRE

Hiệp hội Biên tập viên và Phóng viên Điều tra - viết tắt của Investigat­ingReporters and Editors, một tổ chức chuyên trao đổi thông tin về các kỹ thuật làm phóng sự điều tra đặt trụ sở chính ở Khoa Báo chí Đại họcMissouri (Mỹ).

Layout

Dàn trang, trang báo đã được trình bày hoàn tất.

Lead

1) đoạn dẫn nhập, “sa-pô”;

2) bài đinh của một số báo.

Lead-in

Chuyển mạch, chuyển đoạn - giới thiệu một trích đoạn đã quay phim hay ghi âm từ một nguồn tin hay một phóng viên khác.

Lead story

Bài đinh - bài đăng trên đầu trang nhất của một tờ nhật báo.

Libel

Tội phỉ báng, mạ ly - những lời tuyên bố sai sự thật làm thiệt hại đến uy túi của người khác khiến đối tượng bị căm ghét, khinh bỉ hay chế giễu, làm thiệt hại nghề nghiệp hay công việc kinh doanh của đối tượng ấy.

Maestra

Chủ biên - người đứng đầu một nhóm thu thập tin tức. Các phóng viên, trưởng trang, biên tập viên và các họa sĩ đồ họa cùng làm việc với người chủ biên để thực hiện những tường thuật hay chuyên đề đặc biệt.

Managing editor

Thư ký tòa soạn - cá nhân chịu trách nhiệm chính cho các tác nghiệp hàng ngày của nội dung tờ báo.

Managing of error

Biên độ sai sót - thuật ngữ thường dùng trong các thống kê hay điều tra xã hội học.

Misdemeanors

Tội nhẹ, khinh tội - ở Mỹ, từ này bao gồm hầu hết các tội vi phạm luật giao thông và kết quả là người phạm tội phải nộp tiền phạt hay bị giam ngắn ngày ở trại giam địa phương.

Morgue

“Nhà xác”, thư viện tòa soạn - nơi lưu giữ những số báo cũ, những bài đã đăng, hình ảnh và nhiều nguồn tư liệu để tham khảo.

Multiple-elementlead

Đoạn dẫn nhập nhiều thông tin - đoạn dẫn nhập đưa ra ngay hai hay nhiều yếu tố thông tin đáng chú ý khác nhau.

Narration

Dẫn chuyện, tường thuật - cách kể chuyện, thường là theo trình tự thời gian.

Negligence test

Kiểm tra tính cẩu thả - những tiêu chuẩn có tính pháp lý (ở Mỹ) buộc phóng viên phải hết sức cẩn trọng và có trách nhiệm khi thu thập tin tức.

Network correspondent

Phái viên truyền hình - phóng viên truyền hình đưa tin thời sự trước máy quay, người này không nhất thiết phải là ngưỡi trực tiếp thu thập tin tức cho những gì anh ta ghi hình.

New media

Loại hình truyền thông mới, báo trực tuyến, báo điện tử - loại hình tức được chuyển giao qua máy tính.

News conference

Họp báo - còn gọi press conference,

News director

Đạo diễn truyền hình, trưởng ban thời sự - người điều hành cao nhất mảng tin tức của một đài truyền hình địa phương.

News editor

Trưởng ban thời sự - dùng cho nhật báo. Ở nhiều tờ báo Mỹ, chức danh này còn dùng để chỉ người giám sát hoạt động của phòng biên tập. Xem thêm copy editor.

News release

Thông cáo báo chí - còn gọi là handout hay press release. Thông tin từ các tập thể hay cá nhân gửi đến các cơ quan thông tấn để nhờ quảng bá.

News room

Phòng tòa soạn, phòng làm việc chung của phóng viên và biên tập viên - có khi còn gọi là city room,

News story

Bài báo, mẩu tin - một câu chuyện nhấn mạnh và sự việc cụ thể, thường viết theo kiểu hình tháp ngược. Xem thêm inverted pyramid.

News value

giá trị thông tin - mức độ quan trọng hay gây chú ý của một bài báo.

Not for attribution

không trích dẫn nguồn tin - thông tin không được gán cho nguồn cung cấp.

Nut paragraph

Đoạn cốt lõi - một đoạn văn tổng kết các yếu tố then chốt hay nhiều yếu tố của một bài báo, thường thấy trong những tin bài không viết theo lối hình tháp ngược. Còn gọi là nut graf.

Obscenity

Tục tĩu - những từ ngữ gây khó chịu đề cập đến các bộ phận sinh dục hay các chức năng giới tính.

Off-camera reporter

Phóng viên không lên hình - người thu thập tin tức cho truyền hình nhưng không đứng trước máy quay tường thuật trên sóng.

Off the record

Không trích dẫn, không đăng báo - còn gọi là not for attri­bution.

Op-ed page

Trang báo đối diện trang xã luận, trang phản hồi bản đọc, ý kiến công luận - viết tắt của opposite editorial, trang này còn dành cho các mục tiêu điểm thời sự hay nhân vật gây dư luận.

Open-ended question

Câu hỏi mở - loại câu hỏi mở rộng thêm thông tin qua câu trả lời, chẳng hạn “How did you get involved In politics?” (ông đã tham gia vào chính trị như thế nào?).

Open-meeting laws

Luật hội nghị công khai - luật của liên bang và các tiểu bang Mỹ bảo đảm quyền tiếp cận của nhà báo với các cuộc họp của quan chức chính quyền, còn gọi sunshine laws.

Open-record laws

Luật công bố hồ sơ - luật của liên bang và các tiểu bang Mỹ bảo đảm quyền tiếp cận của nhà báo với nhiều nhưng không phảỉ là tất cả hồ sơ lưu trữ của chính quyền.

Page designer

Nhân viên dàn trang, kỹ thuật viên trình bày báo - người thiết kế trang báo hay tạp chí.

Paraphrase

Viết lại lời trích dẫn - một đoạn văn tóm lược, cô đúc hay giải thích rõ một lời trích dẫn để chuyển tải ý nghĩa chính xác hơn hay mạch lạc hơn cách diễn đạt nguyên thủy của người nói. Không dùng dấu ngoặc kép khi viết lại lời trích dẫn.

Participant observation

Quan sát từ trong diễn tiến, thâm nhập thực tế - một kỹ thuật nghiên cứu của phóng viên khi phóng viên tham gia vào hoạt động mà họ muốn viết.

Payola

“Bôi trơn” nhà báo - tiền hay quà tặng cho nhà báo để mong đổi lại sự ưu ái.

per capita,

Tính trên đầu người - thường dùng trong các thống kê.

Photo editor

Biên tập ảnh, trưởng phòng ảnh - cá nhân cố vấn cho ban biên tập về việc sử dụng ảnh chụp trong tờ báo. Người này cũng có thể quản lý luôn các phóng viên ảnh của tờ báo.

Piece

Bài - dùng như story,

Plagiarism

Đạo văn.

Play

Vị trí đăng bài - viết tắt của display. Bài hay có thể đăng ở đầu trang nhất, bài kém hơn đăng ở các trang trong.

Poll

Trưng cầu ý kiến - phương pháp đo lường dư luận bằng cách hỏi một nhóm người lựa chọn ngẫu nhiên để đại diện cho số đông. Còn gọi làsurvey hay public opinion poll.

Press

1) Máy in báo;

2) Báo giới, báo chí nói chung - có khi dùng để chỉ riêng báo viết để phân biệt với truyền hình (broadcast).

Press agent

Trợ lý báo chí - người được thuê để tạo ra tiếng tăm cho một khách hàng. Các chiến thuật mà trợ lý báo chí thường dùng - gọi là press agentry - là dàn dựng, sắp đặt những cuộc phỏng vấn hay những trò quảng cáo thu hút sự chú ý của phóng viên.

Press box

Khu vực dành riêng cho báo chí - một khu riêng biệt trong sân vận động hay thao trường dành cho báo chí làm việc khi có sự kiện lớn diễn ra tại những nơi này.

Press conference

Xem news conference.

Press release

Xem news release.

Production department

Phòng sản xuất - bộ phận của một tờ báo chịu trách nhiệm chuyển tất cả tin tức và quảng cáo thành sản phẩm hoàn chỉnh. Đây là nơi tập trung các thiết bị chế bản, bình phim, và máy in.

Profanity

Lời báng bổ - những từ ngữ đề cập một cách bất kính đối với những biểu tượng tôn giáo được cho là thiêng liêng.

Profile

Chân dung - bài báo nhằm mục đích bộc lộ cá tính của một con người hay một nhân vật nổi tiếng.

Public figure

Người của công chúng, nhân vật nổi bật - người có vai trò nổi bật trong các vấn đề thời sự của một đoàn thể, người có quyền lực và ảnh hưởng đầy sức thuyết phục đối với một cộng đồng, hay người trở thành trung tâm chú ý của một vấn đề tranh cãi công khai. Các tòa án Mỹ cho nhà báo quyền hạn rộng rãi khi tường thuật về các nhân vật nổi bật.

Publisher

Nhà xuất bản, chủ báo, chủ nhiệm - chức vụ điều hành cao nhất của một tờ báo, thường thuộc về chủ sở hữu của tờ báo mặc dù các liên hiệp báo chí ở Mỹ cũng có thể dùng chức danh này cho người điều hành cao nhất ở từng khu vực.

Pulitzer Prize

Giải thưởng Pulitzer - giải báo chí uy tín nhất do Joseph Pulitzer sáng lập ra và do Đại học Colombia quản trị.

Qualified privilege

Đặc quyền hạn chế, có điều kiện - quyền tường thuật những gì các quan chức chính phủ đã nói hay làm trong thẩm quyền chức vụ của họ nếu như tường thuật đầy đủ, công bằng và chính xác. Còn gọi là conditional privilege,

Quote

Câu trích dẫn, trích dẫn lời của người khác - ghi lại chính xác từng lời của nguồn tin.

Randomization

Lấy kết quả ngẫu nhiên. Xem thêm poll. 

Rate

Tỷ lệ - một thuật ngữ thống kê thường dùng trong báo chí Mỹ để đo lường mức độ của số vụ tự tử hay giết người (tính trên đơn vị 100.000 người), hay mức độ lạm phát hoặc tăng giảm ngân sách hàng năm. Xem thêm per capita.

Records column

Mục linh tinh hàng ngày, mục sinh hoạt địa phương - một phần của tờ báo đăng thải thường xuyên những thông tin chẳng hạn như tin hỏa hoạn và cảnh sát thường nhật, cũng như các tin hôn nhân, ly dị, từ trần, chào đời liên quan đến những nhân vật trong cộng đồng.

Reporter

Phóng viên.

Rewrite

Chấp bút, nhuận sắc - viết lại một bài báo cho hay hơn. Từ này còn chỉ việc tòa soạn lấy thông tin qua điện thoại từ các phóng viên ở hiện trường và tổng hợp thành bài báo.

Roundup

Bài tổng quan - một bài báo bao gồm nhiều sự kiện có liên quan. Ví dụ, sau một cơn bão, phóng viên có thể làm một bài tổng quan các tai nạn, mất điện và các hậu quả của cơn bão.

Sample

Mẫu, điển hình - một phần của một nhóm hay một số đông người được chọn ra để nghiên cứu như là đại diện cho toàn bộ tập thế.

Scenic lead

Dẫn nhập cảnh quan - đoạn mở đầu bài báo tập trung vào mô tả một môi trường.

Second-cycle story

Bài báo được cập nhật thêm, bài bổ sung - phiên bản thứ hai của một bài báo đã xuất bản, còn gọi là second-day story. Bài báo này thường có thêm thông tin mới hay tiếp cận theo góc nhìn mới.

Senior editor

Trưởng ban biên tập - người biên tập nhiều phần, nhiều chuyên mục của các tạp chí lớn.

Senior writer

Cây bút gạo cội, nhà báo lỗi lạc - một chức danh của các tạp chí Mỹ chỉ dành cho những phóng viên giỏi nhất và kinh nghiệm nhất.

Series

Bài đăng nhiều kỳ - hai hay nhiều bài về cùng một chủ đề hay nhiều chủ đề có liên quan được xuất bản theo lịch trình định sẵn.

Service journalism

Báo chí hữu ích - một khuynh hướng làm báo lấy sự hữu ích đối với độc giả làm một tiêu chí đo lường tin tức. Cân nhắc kỹ nội dung và cách thể hiện, báo chí hữu ích trình bày các thông tin cần thiết cho độc giả theo cách tiện dụng nhất; chẳng hạn, bố trí những thông tin then chốt theo một danh mục hay trong một khung đồ họa.

Set-up

Câu mồi - trong phát thanh và truyền hình, đó là một câu nhập đề gây chú ý cho khán thính giả để họ theo dõi tiếp.

Shield laws

Luật bảo vệ nguồn tin - các nhà lập pháp Mỹ cho nhà báo quyền bảo vệ tông tích hay nhân thân của nguồn tin.

Show producer

Biên tập viên chương trình - chuyên gia về thời sự truyền hình đảm trách sản xuất các bản tin riêng lẻ của chương trình, chịu trách nhiệm trực tiếp với giám đốc sản xuất chương trinh. Xem thêm execu­tive producer.

Sidebar

Thông tin phụ trợ - thường được đóng khung (nên còn gọi là “box”) và in bên cạnh bài báo chính. Nội dung của các box thường là cung cấp thêm chi tiết về một nhân vật hay một vấn đề đã được nhắc đến trong bài viết chính.

Situation ethics

Đạo đức tùy tình huống - một chủ thuyết đạo đức cho rằng có thể phá vỡ một số nguyên tắc nếu như hoàn cảnh cho thấy việc phá vỡ nguyên tắc sê phục vụ cộng đồng tốt hơn. Ví dụ, một nhà báo tin rằng việc đánh lứa nguồn tín để lấy được thông tin là trái với đạo đức nhưng chính nhà báo ấy củng sẵn sàng che giấu tông tích, nhân thân cùa mình để thâm nhập vào các tổ chức phi pháp.

Sniff

“Đánh hơi" - giai đoạn đầu tiên của một cuộc điều tra.

Soft lead

Mở đầu gián tiếp, nhập đề lung khởi - đoạn mở đầu dùng một câu trích dẫn,một mẩu chuyện hay các thủ pháp văn học để thu hút độc giả. Xem thêm hard lead,

Soft news

Tin mềm, tin không có thời gian tính - những tin bài về xu hướng, nhân vật hay lối sống. Yếu tố thời gian không quan trọng, đăng sớm hay muộn cũng được. Xem thêm hard news

Source

Nguồn - người hay hồ sơ mà phóng viên lấy thông tin. Từ này thường dùng cho người nhiều hơn.

Spot news

Tin đỉnh, tin tường thuật tại chỗ tường thuật sự kiện đúng lúc ngay khi đang diễn ra.

Story

Bài báo - còn gọi là piece. Một bài dài còn có thể gọi là một takeout hay một blockbuster,

Stylebook

Cẩm nang viết báo - một cuốn sách về những tiêu chuẩn quy ước khi viết báo, bao gồm các quy tắc về văn phạm, chấm câu, cách viết hoa hay viết tắt. Các hãng thông tấn uy tín như AP và UPI đã xuất bản những cuốn cẩm nang như vậy và được nhiều báo chí Mỹ sử dụng.

Substantial truth

Sự thật trọng yếu - tính chính xác trong các yếu tố cơ bản của bài báo.

Summary lead

Mở đầu tóm tắt, nhập đề toát yếu - đoạn mở đầu của một bài báo mà người viết tóm lược hai hay nhiều hành động thay vì tập trung vào bất kỳ hành động nào.

Sunshine laws

Xem open-meeting laws.

Tickler

Xem futures file.

Tie-back

Móc ngược, nhắc lại - một hay nhiều câu liên quan đến câu chuyện hay sự kiện đã tường thuật ở bài báo trước. Thường dùng trong những bài tiếp nối hay bài đăng nhiều kỳ. Đây còn là kỹ thuật để nhắc lại đoạn đầu trong đoạn kết của một bài báo.

Tip

Đầu mối thông tin - một thông tin nhỏ có thể dẫn tới một bài báo, còn gọi là lead.

Transition

Chuyển mạch - từ ngữ hay đoạn văn đưa độc giả từ đoạn này sang đoạn khác và cho thấy mối quan hệ của các đoạn văn.

Undercover reporting

Tường thuật bí mật - một kỹ thuật phóng sự điều tra khi phóng viên dấu kín nhân thân để thâm nhập lấy thông tin.

Universal desk:

Phòng biên tập sơ bộ - bộ phận biên tập chuẩn bị tin bài cho tất cả các bộ phận biên tập.

Update

Xem follow.

UPL

Hãng thông tấn UPI - viết tắt của United Press Agency.

Videographer

Người quay phim truyền hình.

Videoprompter

Máy nhắc tin - một thiết bị điện tử hay cơ khí thể hiện nội dung của bản tin đáng đọc để phát sóng. Thiết bị này đặt bên cạnh máy quay để phát thanh viên nhìn và đọc theo mà mặt vẫn cứ như là đang nhìn thẳng vào ống kính máy quay.

Vulgarity

Từ ngữ thô lỗ.

Wrap-up

Lời đúc kết - nhận định, bình luận hoàn tất ngay cuối một bản tin phát thanh hay truyền hình, một kết thúc mạnh của một bài tường thuật.

Gợi ý những quyển sách tham khảo về kỹ năng viết

Mình xin giới thiệu vài quyển sách cho những bạn trẻ đang muốn trau dồi kỹ năng viết lách, hay cần tìm hiểu về những công việc liên quan đến viết lách như viết tin bài, viết báo, biên tập…Hi vọng nó hữu ích với các bạn!

Bạn có sách nào hay về viết lách mà bạn tâm đắc xin giới thiệu lại cho mình hen!

Viết gì cũng đúng – Anthony Weston

Nếu chúng ta đơn thuần viết bản năng, đôi khi đoạn văn vì thế mà trở nên lung tung, khó hiểu, ý tứ chồng chéo vào nhau mà không có luận điểm rõ ràng để thuyết phục người đọc. “Cuốn sách này giúp người đọc có một nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn về biện luận, đó không phải chỉ đơn thuần là việc đưa ra những ý kiến của mình dưới một dạng thức mới, mà là việc đưa ra hàng loạt lý do hay bằng chứng để củng cố cho kết luận. Biện luận không phải là tuyên bố hay tranh cãi về một quan điểm hay vấn đề nào đó, mà là cố gắng bảo vệ cho một quan điểm nhất định với các lý lẽ và bằng chứng rõ ràng.” (Trích phần giới thiệu sách)

Cãi gì cũng thắng – Madsen Pirie

Mình thấy các bạn trẻ hay hỏi ở các diễn đàn là đọc sách gì để tăng cường khả năng tranh luận, mình thường giới thiệu quyển sách này. Cãi gì cũng thắng – Madsen Pirie không phải là quyển sách dạy cãi lộn, mà chỉ ra những lỗi ngụy biện thường thấy trong tranh luận với những ví dụ hết sức rõ ràng và sinh động. “Hiểu biết về ngụy biện cung cấp khả năng phòng thủ cũng như tấn công cho bất kỳ ai. Khả năng phát hiện ra các ngụy biện sẽ cho phép bạn bảo vệ bản thân khi chúng được những người khác sử dụng và khả năng sử dụng các ngụy biện tài tình sẽ cho phép bạn thành công và ở thế công kích khi bạn hướng tranh luận theo cách của mình.” (Trích phần giới thiệu sách). Vì sao mình giới thiệu quyển sách này? Đọc xong quyển sách này, mình tin khi đọc sách, báo… nhiều lúc bạn sẽ nhận ra tính thiếu thuyết phục của nhiều đoạn văn.

Từ câu sai đến câu hay – Nguyễn Đức Dân

Một cuốn sách ôn tập từ ngữ và ngữ pháp, củng cố lại khả năng viết Tiếng Việt của bạn. Trong sách có rất nhiều ví dụ về các lỗi sai thường thấy trên truyền thông như dùng từ sai, ngữ pháp sai… và cách sửa sao cho đúng. Rất nhiều người khi đọc một đoạn văn có lỗi thường cảm thấy “không ổn”, nhưng lại không biết không ổn ở chỗ nào và sửa làm sao cho đúng, quyển sách này hướng dẫn cách sửa câu khá thuyết phục. Vì dẫu sao một câu văn đúng khi đọc mang lại cảm giác dễ chịu và thuyết phục hơn nhiều so với một câu văn sai đầy rầy lỗi viết câu (haha, mình nói câu này thừa thãi ghê á).

Quảng cáo theo phong cách Ogilvy – David Ogilvy

David Ogilvy là một trong những gương mặt nổi bật nhất của ngành quảng cáo, với danh xưng “Cha đẻ của nền quảng cáo hiện đại”, quyển sách của ông là tài liệu tham khảo cho những ai muốn trở thành một copy writer.

Phỏng vấn báo chí – Benjamin Ngô

Ngày nay, có rất nhiều trang tin được thành lập, việc trở thành cộng tác viên của một trang tin dễ dàng hơn rất nhiều so với việc trở thành phóng viên của một tờ báo chính quy. Quyển sách Phỏng vấn báo chí cung cấp những kiến thức cần thiết cho một bài phỏng vấn. “Chắt lọc những bí quyết, lời khuyên, những tình huống thực tế của những nhà báo giỏi phỏng vấn, từ những bước chuẩn bị, đến thực hiện, làm sao để đặt được câu hỏi “đắt”, hay câu hỏi “bẫy”, làm sao để tìm được nguồn tin tin cậy cho vấn đề hay của mình, cả những cách xử lý sự cố…” ( Trích phần giới thiệu sách).

Khám phá nghề biên tập – Ngọc Trân

“Cuốn sách bao gồm các nội dung chính: Tổng quát về nghề biên tập: nghề này quan trọng như thế nào; để hành nghề tố chất phải ra sao; biên tập viên có thể đóng góp gì cho một tờ báo; tìm hiểu tổng quát về tòa soạn, quy trình di chuyển bài vở cùng công việc của biên tập viên; Làm thế nào để cho thông tin trong bài báo thêm chính xác, dễ hiểu.” (Trích phần giới thiệu sách)

Nghề biên tập dễ hay khó, điều này thật khó nói. Có người bảo làm biên tập rất nhàn rỗi, chỉ cần đợi phóng viên viết bài, sửa chữa đôi chút cho lên bài là xong. Thực sự thì không phải vậy, bởi vì không phải ai cũng có khả năng sửa chữa câu từ cho đúng. Hơn thế, biên tập viên thường là người dày dặn kinh nghiệm, có cái nhìn bao quát vấn đề và tìm ra những điều không hợp lý trong bài viết. Các biên tập viên còn là người chịu trách nhiệm “cắt bài” sao cho phù hợp với khuôn khổ chuyên mục, làm cho bài viết trở nên súc tích, cô đọng và thuyết phục nhất có thể. Làm biên tập thực sự không dễ!

Viết tin bài đăng báo – Ngọc Trân

Cuốn sách để tham khảo cho những ai muốn viết tin bài hoàn chỉnh, cung cấp cho người đọc nhiều thông tin bổ ích về cách viết tin, viết bài… sao cho phù hợp.

Nghệ thuật viết văn 1953 – Phạm Việt Tuyền

Tình cờ mình tìm thấy quyển này trên Thư viện quốc gia Việt Nam, sách cũ được scan lại, cảm thấy rất hay. Mình xin đính kèm link bên dưới cho bạn nào cần.

Link: goo.gl/IijgLB

Hoàng Khôi

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

Ai trả tiền cho nhà báo: Nào, ta cùng tìm!

Từ khi báo điện tử ra đời, rồi tiếp đó là các mạng xã hội phát triển, mô hình kinh doanh đã tồn tại suốt hơn 5 thế kỷ bỗng vỡ vụn.

LTS: Các tòa soạn báo đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong thời đại kỹ thuật số, vừa vật lộn để tồn tại, vừa để khẳng định mình và loay hoay tìm hướng phát triển. Tạp chí Khám phá xin giới thiệu đến quý bạn đọc góc nhìn từ một người trong cuộc - Nhà báo Nguyễn Huy Hoàng (Nguyễn Nhím) qua bài viết dưới đây:

Bài 1 - AI TRẢ TIỀN CHO NHÀ BÁO: NÀO, TA CÙNG TÌM NHÉ

Với báo in, bạn đọc là khách hàng - họ trả tiền để mua tin tức của nhà báo thông qua việc mua các ấn phẩm. Nhưng với báo điện tử - bạn đọc “bỗng dưng” không chịu trả tiền cho nhà báo nữa!

Khi học trong trường báo chí, tôi đã được nghe một công thức về kinh tế báo chí vô cùng dễ hiểu: “Phát hành được 1,5 vạn bản là sống khỏe”.

Điều đó hoàn toàn đúng với thời kỳ báo in còn thịnh vượng - cách đây khoảng 5-10 năm. Có thể nói, đó là cách nói đơn giản về “điểm có lãi” cho một mô hình kinh doanh tin tức đã tồn tại hơn 5 thế kỷ (công nghệ báo in chính thức ra đời từ thế kỷ 16 - khi phát minh ra máy in).

Báo điện tử trở nên phổ biến trong thời đại công nghệ thông tin. Ảnh: minh họa. 

Mô hình đó là: Các tòa soạn thuê phóng viên để thu thập tin tức, bỏ chi phí thiết kế, in ấn, phân phối đến khách hàng - bạn đọc. Một mô hình kinh doanh kiểu B2C. Ở mô hình này, các tòa soạn rất dễ xác định khách hàng của mình - xác định người sẽ trả tiền cho mình - đó chính là bạn đọc.

Qua 5 thế kỷ phát triển, mô hình kinh doanh đó dần được hoàn thiện nên kể cả với những nền báo chí ít tính kinh tế nhất như ở Việt Nam, những người làm báo cũng dễ để vận hành nó: “Cứ 1,5 vạn là sống khỏe”.

Nhưng từ khi báo điện tử ra đời, rồi tiếp đó là các mạng xã hội phát triển, mô hình kinh doanh đã tồn tại suốt hơn 5 thế kỷ bỗng vỡ vụn. Thị trường báo giấy bắt đầu tụt dốc không phanh. Các tòa soạn bắt đầu tính đến phương án dự phòng.

“Báo điện tử! Báo điện tử” - những tiếng thì thầm bắt đầu từ khu vực làm maketting - cứ lớn dần và trở thành một hướng đi được các tòa soạn lựa chọn. Tiếng thì thầm từ các nước có nền báo chí thị trường phát triển vọng vào Việt Nam.

Lúc đầu, các tòa soạn chỉ đầu tư cho báo điện tử một cách nhỏ giọt: Đưa bài từ báo giấy lên bản điện tử; thành lập một ban trong tòa soạn. Có một số tòa soạn cấp tiến hơn đã thiết lập “tòa soạn hội tụ” - xem báo giấy và báo điện tử ngang nhau.

Nhưng rồi khi thị trường báo in đã giảm đến mức “tất cả mọi người chơi đều lỗ” thì các tòa soạn đều buộc phải chuyển sang báo điện tử.

Nhưng một sự thật phũ phàng xuất hiện: Bạn đọc không làm cái điều mà họ vẫn làm suốt 5 thế kỷ qua. Họ không trả tiền để mua tin tức nữa. Không những đọc miễn phí, bạn đọc còn “chảnh chọe” vì có quá nhiều… tin tức miễn phí trên internet.

Các hệ thống quảng cáo tự động trực tuyến ra đời đã tạo ra một mô hình kinh doanh mới “càng nhiều viu càng nhiều tiền”. Nhưng rồi các tòa soạn nhanh chóng vỡ mộng vì tiền thu về không đủ chi phí.

“Hết nạc thì vạc đến xương” - khi tin tức không còn người mua, các tòa soạn tập trung để làm quảng cáo (trước đây, xét trên mô hình kinh doanh thì quảng cáo chỉ là phần lợi tức đi kèm của báo chí).

Nhưng rồi các tòa soạn nhanh chóng nhận thấy số tiền thu được từ quảng cáo banner, link, bài pr không đủ bù đắp chi phí để theo đuổi tiêu chí đơn giản nhất mà báo điện tử phải có: “Tin tức cập nhật liên tục”. Để đạt được tiêu chí đó, các tòa soạn báo điện tử phải chi phí nhiều hơn chi phí cho một tờ nhật báo giấy.

Đang trong tình cảnh “gần chết mà không biết làm sao” thì các hệ thống quảng cáo tự động xuất hiện như một ân nhân của báo điện tử. Tiêu biểu nhất là Google.

Anh “Gu” nói: “Hãy làm thuê cho chúng tôi, các bạn cứ sản xuất tin tức chúng tôi sẽ bán chúng, càng nhiều viu càng nhiều tiền”. Và lời mời của Google rất thuyết phục vì họ có một mô hình kiếm tiền quảng cáo cực kỳ tối ưu (điều này ai cũng biết chắc không cần nói lại).

Nhưng Google là một kẻ kinh doanh chính hiệu, "lạnh lùng" đến mức tàn nhẫn vì lợi nhuận. Thực tế, Google là một cái máy, nó gọi mọi đối tác xuất bản tin tức của nó bằng một cái tên: Nhà xuất bản. Nó không quan tâm “tôn chỉ mục đích” của các báo, cũng không phân biệt đó là "đuôi vi en" hay "chấm com" "chấm o rờ gờ"...

Càng đông người chơi, Google càng kiếm được nhiều tiền.

* Còn tiếp...

Nhà báo Nguyễn Huy Hoàng