Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU VÀ HIỆU LỰC ĐỐI KHÁNG VỚI NGƯỜI THỨ BA *PGS.TS Dương Anh Sơn

BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU VÀ
HIỆU LỰC ĐỐI KHÁNG VỚI NGƯỜI THỨ BA
                                                                 *PGS.TS  Dương Anh Sơn
Tóm tắt: Bảo lưu quyền sở hữu với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, là một trong những nội dung mới được đưa vào BLDS 2015. Trong bài viết này tác giả phân tích một số nội dung liên quan đến vấn đề bảo lưu quyền sở hữu nói trên như: tính thống nhất của các quy định pháp luật về biện pháp này, bảo lưu quyền sở hữu có nên là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hay chỉ nên là điều khoản trong hợp đồng do các bên thoả thuận, việc áp dụng biện pháp bảo đảm này có thể gặp phải những khó khăn gì trên thực tế. Bài viết cũng phân tích tính khả thi của các quy định của pháp luật liên quan đến bảo lưu quyền sở hữu. Đặc biệt bài viết đề cập đến vấn đề, hiệu lực đối kháng với người thứ ba khi biện pháp bảo lưu quyền sở hữu được đăng ký nên là quyền truy đòi hay quyền ưu tiên thanh toán. Trên cơ sở phân tích những vấn đề nói trên bài viết đưa ra một số đề xuất thể hiện quan điểm của tác giả.
Abstract: Retention of ownership as a measure to secure the performance of obligations is one of the new contents incorporated in the Civil Code of 2015. In this article, the author analyzes some of the issues related to retention of ownership as mentioned above: the consistency of laws and regulations on this measure, whether retention of ownership should be a legislated measure for securing the performance of obligations or only be a clause in a contract agreed upon by the parties, some difficulties that the application of this measure may face in practice. The paper also analyzes the feasibility of the provisions of the law relating to the retention of ownership. In particular, the article deals with the opposing effect to the third party when the retention of ownership is registered as a right to claim or payment priority right. Based on the analysis of the issues mentioned above, the article offers a number of suggestions expressing the views of the author.
Dẫn nhập: Vừa mới có hiệu lực chưa lâu vì vậy có lẽ BLDS 2015 được áp dụng để giải quyết trách chấp chưa nhiều. Các nhà làm luật cũng như toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọng vào BLDS 2015 này vì nhiều người có tham vọng đối với lần sửa đổi này là tiếp cận gần nhất với thể chế kinh tế thị trường, định hướng XHCN và đừng để Bộ luật lớn như thế này mà cứ 10 năm phải sửa một lần .
Có thể nhận thấy BLDS 2015 khắc phuc được  nhiều hạn chế của BLDS năm 2005 về tài sản và các quyền tài sản, về hợp đồng, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ… Nhiều quy định mới lần đầu tiên được tìm thấy sự thể hiện trong pháp luật Việt Nam. Một trong số những điểm mới đó là bảo lưu quyền sở hữu tài sản với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Mặc dù mới đưa vào BLDS tuy nhiên các quy định của BLDS liên quan đến bảo lưu quyền sở hữu đã gây tranh cãi trong khoa học pháp lý.
1. Bảo lưu quyền sở hữu: Theo quy định tại Điều 331 BLDS 2015, trong hợp đồng mua bán tài sản, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ. Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán. Và bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm này tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm. Có ý kiến cho rằng, quy định như vậy là đảm bảo hài hoà lợi ích của bên bán và bên mua  .
Theo pháp luật của nhiều nước thì bảo lưu quyền sở hữu chỉ có thể khi thoả mãn hai điều kiện cần và đủ: thứ nhất, trong hợp đồng mua bán người bán đồng ý cho người mua trả chậm; và thứ hai, bảo lưu quyền sở hữu phải được các bên thoả thuận trong hợp đồng. Trong khi đó, pháp luật của Việt Nam có vẻ không nhất quán trong vấn đề này. Mặc dù, không trực tiếp nhưng khoản 2 Điều 331 BLDS một cách gián tiếp đã quy định rằng, bảo lưu quyền sở hữu chỉ có thể khi và chỉ khi có sự thoả thuận của các bên hoặc là trong hợp đồng, hoặc trong một văn bản riêng biệt. Trong khi đó theo quy định tại Khoản 1, Điều 453 BLDS 2015, các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Từ quy định của Điều 331 BLDS 2015, có thể mặc nhiên hiểu rằng, người bán chỉ có thể có quyền bảo lưu quyền sở hữu trong khoảng thời gian người mua chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho người bán. Và bảo lưu quyền sở hữu sẽ chấm dứt tại thời điểm nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong.  Điều này cũng có nghĩa là trong trường hợp người mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán trước hoặc vào thời điểm nhận hàng thì người bán không có quyền bảo lưu quyền sở hữu. Như vậy chúng ta có thể thấy, bối cảnh trong đó người bán bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản theo Điều 331 và Điều 453 BLDS 2015 là giống nhau – người mua chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho người bán. Người mua chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán có nghĩa là người mua được phép trả chậm. Tuy nhiên căn cứ phát sinh bảo lưu quyền sở hữu lại khác nhau: có thoả thuận theo Điều 331 và mặc nhiên theo Điều 453. Rõ hơn thì có thể nói rằng, theo quy định tại Điều 453 BLDS 2015, điều kiện cần và đủ để người bán bảo lưu quyền sở hữu là người mua chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán (trả chậm, trả dần), trong khi đó đây mới chỉ là điều kiện cần để người bán bảo lưu quyền sở hữu theo điều 331, còn điều kiện đủ là phải có thoả thuận của các bên.
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dẫn sự. Theo quy định tại Điều 453 BLDS 2015, trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần bảo lưu quyền sở hữu luôn là bắt buộc không phụ thuộc vào việc các bên có thoả thuận trong hợp đồng hay không, và người bán không có quyền bào lưu quyền sở hữu nếu các bên có thoả thuận về điều đó trong hợp đồng. Ở đây pháp luật đã một cách vô cớ áp đặt ý chí của mình cho người mua. Theo nguyên tắc, pháp luật chỉ có thể áp đặt ý chí của họ cho các bên trong hợp đồng chỉ trong một số trường hợp ngoại lệ khi phải bảo về lợi ích của nhà nước, của xã hội hoặc của người thứ ba. Trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần tôi thấy việc người bán không bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản hoàn toàn không gây thiệt hại cho bất kỳ người nào khác. Một điều kỳ lạ trong quy định này nữa là, một mặt mặc nhiên trao cho người bán quyền bảo lưu quyền sở hữu mặt khác lại cho phép các bên thoả thuận việc người bán không có quyền này.
Từ những phân tích và lập luận ở trên tôi cho rằng, quy định tại Điều 453 BLDS 2015 không những mâu thuẫn với Điều 331BLDS 2015 mà còn trái thực tiễn và thiếu tính khả thi.
2. Quyền đòi lại tài sản: Theo quy định tại Điều 332 BLDS 2015, trong trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
 Nếu người mua vẫn đang chiếm giữ tài sản và tài sản vẫn còn duy trì tình trạng ban đầu thì việc đòi lại tài sản là việc đơn giản. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều khi hàng hoá nguyên gốc không còn do hành vi sáp nhập, trộn lẫn hay chế biến của người thậm chí tạo thành sản phẩm mới cùng với nguyên vật liệu của người khác . Trong những trường hợp này thì quyền đòi lại tài sản được thực hiện như thế nào? Xem ra pháp luật Việt Nam chưa chuẩn bị các khả năng có thể để giải quyết các tình huống nói trên.
Nếu quyền đòi lại tài sản bao gồm không những đòi lại tài sản nguyên trạng mà còn cả quyền đòi lại giá trị của tài sản thì bảo lưu quyền sở hữu không còn được coi là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà chỉ là điều khoản do các bên thoả thuận trong hợp đồng mua bán tài sản.
Một vấn đề cũng cần phải được xem xét, là giả thiết nếu trong hợp đồng không có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu và pháp luật không điều chỉnh vấn đề này thì người bán có quyền đòi lại tài sản đã bán khi người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hay không?
Theo quy định tại Điều 425 BLDS 2005, một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, và bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp không có thoả thuận vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ hợp đồng BLDS quy định một số trương hợp cho phép người mua được huỷ hợp đồng và yêu cầy bồi thường thiệt hại.  Trong khi đó không có quy định nào của BLDS năm 2005 và cả LTM 2005 cho phép người bán huỷ bỏ hợp đồng khi người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nếu các bên không có thoả thuận khác. Tôi cho rằng, đó là một trong những bất cập của BLDS 2005 và LTM 2005. Có lẽ để khắc phục bất cập nói trên vấn đề bảo lưu quyền sở hữu được đưa vào Điều 461-mua trả chậm, mua trả dần nhằm bảo vệ người bán tốt hơn.
Như vậy theo BLDS 2005, ngay cả khi không có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu thì người bán vẫn có quyền đòi lại tài sản bằng cách huỷ hợp đồng nếu người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là điều kiện huỷ hợp đồng.
Vấn đề tiếp theo, chúng ta giả thiết là không có quyền đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 332 BLDS 2015, thì trong trường hợp người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho người bán theo hợp đồng mua bán tài sản và trong hợp đồng này không có thoả thuận bảo lưu quyền sở hữu thì người bán có quyền đòi lại tài sản hay không. Có thể nói rằng, người mua không thanh toán cho người bán có nghĩa là người mua đã vi phạm hợp đồng và khi việc sự vi phạm này rơi vào tình huống được quy định tại Điều 424 BLDS 2015 thì người bán có quyền huỷ hợp đồng.
Thật vậy, theo quy định tại Điều 424 BLDS 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể huỷ bỏ hợp đồng . Khi hợp đồng bị huỷ, theo quy định tại Điều 427 BLDS 2015 thì: i) hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp; ii) Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản, việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả; và iii) Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường. Quy định này của pháp luật được áp dụng cho cả những trường hợp người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng, cho dù không có quy định đòi lại tài sản theo Điều 332 BLDS 2015 thì người bán vẫn có quyền đòi lại tài sản theo Điều 424 và Điều 427 BLDS 2015.
Vậy vấn đề cần phải được xem xét là việc đòi lại tài sản khi bảo lưu quyền sở hữu theo quy đinh tại Điều 332 và việc hoàn trả lại tài sản trong trường hợp hợp đồng bị huỷ theo quy định tại Điều 427 BLDS 2015 có gì khác nhau? Về vấn đề này pháp luật còn để ngỏ. Theo quan điểm của tôi thì pháp luật cần có cơ chế cho phép người bán đòi lại tài sản được bảo lưu quyền sở hữu nhanh chóng, linh hoạt và chắc chắn hơn so với yêu cầu hoàn trả lại tài sản trong trường hợp hợp đồng bị huỷ.
3. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba: quyền truy đòi tài sản hay quyền ưu tiên. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba được coi là quy định mới trong BLDS 2015 và về thực chất có ý nghĩa tương đồng với “có giá trị pháp lý đối với người thứ ba”  theo quy định tại khoản 3 Điều 323 BLDS 2005., hiệu lực đối kháng với người thứ ba được hiểu là: i) người nhận bảo đảm  được ưu tiên thanh toán trước so với các chủ nợ khác; theo quy định tại Điều 308 BLDS 2015; ii) người có quyền (người bán) có quyền truy đòi tài sản từ người thứ 3 đang chiếm giữ tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 297 BLDS 2015. Trong phạm vi bài viết tác giả không đề cập đến quyền ưu tiên thanh toán mà chỉ đi sâu phân tích quyền truy đòi. cần phải nghĩa vụ tôn trọng, ví dụ quyền của các bên đối với tài sản bảo đảm.
Có ý kiến cho rằng, “quyền truy đòi” nêu trên của BLDS 2015 có ý nghĩa tương đồng với “trả lại tài sản” của bên nhận cầm cố đối với trường hợp tài sản bị người khác chiếm giữ của BLDS 2005 . Tôi cho rằng, quyền truy đòi và quyền yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản theo Khoản 1 Điều 314 BLDS 2015, quyền yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo Khoản 5 Điều 323 BLDS 2015, quyền đòi lại tài sản theo Điều 332 BLDS 2015, là không giống nhau. Bên có quyền thực hiện quyền truy đòi khi họ không thể đòi lại tài sản từ các chủ thể nói trên vì tài sản đã được họ chuyển giao cho người thứ ba khác.
Đối với các biện pháp cầm cố và thế chấp thì bên cầm cố hoặc bên thế chấp khó có thể chuyển nhượng tài sản thế chấp cho người thứ ba vì việc chuyển nhượng này đã bị ngăn cản bởi việc đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc tài sản đã bị chiếm giữ. Nếu là cầm cố động sản thì bên nhận cầm cố đang chiếm giữ tài sản nên vấn đề truy đòi không được đặt ra mà chỉ có thể là quyền đòi lại tài sản từ người chiếm giữ trái pháp luật. Nếu tài sản cầm cố (là động sản) hoặc thế chấp là bất động sản (cả thế chấp động sản) thì bên cầm cố và bên thế chấp không thể chuyển nhượng tài sản đó một cách hợp pháp cho người thứ ba và nếu có chuyển nhượng thì là chuyển nhượng bất hợp pháp và trong những trường hợp này bên nhận cầm cố hoặc bên nhận thế chấp có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu mà không phải thực hiện quyền truy đòi. Trong trường hợp thế chấp động sản, bên nhận thế chấp có thể cho phép bên thế chấp bán tài sản thế chấp và có quyền theo đuổi (cũng có thể gọi là quyền truy đòi) tài sản đó (hoặc giá trị tài sản).
Như vậy, quyền truy đòi được thực hiện khi không thể đòi lại tài sản từ chủ thể có nghĩa vụ (bên chế chấp động sản có quyền bán động sản đó và người mua tài sản được bảo lưu quyền sở hữu) vì tài sản đã được chuyển giao hợp pháp cho người thứ ba. Hay nói cách khác là người bán thực hiện quyền truy đòi tài sản khi có đủ các điều kiện cần và đủ: điều kiện cần là trong hợp đồng có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu và biện pháp bảo đảm này đã được đăng ký; điều kiện đủ là người mua không còn chiếm giữ tài sản sản mua bán được bảo lưu quyền sở hữu và tài sản đã được người mua bán cho người thứ ba.
Việc thực hiện quyền truy đòi tài sản từ khách hàng của người mua sẽ gặp những khó khăn nào, có thể gây ra những rủi ro và tạo ra những hệ luỵ gì?
Để hiểu rõ hơn quyền truy đòi tài sản của người bán, chúng ta xem xét ví dụ sau đây. Ông A bán tài sản cho ông B và trong hợp đồng này ông A cho phép ông B trả chậm (tương tự mua trả chậm, trả dần). Cũng trong hợp đồng này có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản đó của ông A. Biện pháp bảo đảm này được đăng ký. Sau khi nhận tài sản từ ông A, ông B bán tài sản đó cho ông C. Đến thời hạn ông B không  thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông A. Theo quy định tại Điều 332 ông A có quyền đòi lại tài sản từ ông B, nhưng vì tài sản đã được ông B bán cho ông C. Vì không đòi lại được tài sản từ ông B nên ông A có quyền truy đòi tài sản từ ông C. Như phân tích ở trên, việc ông A đòi tại tài sản từ ông B đã là vấn đề phức tạp thì việc ông A truy đòi tài sản từ ông C lại càng phức tạp hơn.
Thực tiễn hoạt đồng thương mại cho thấy rằng, người mua mua hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu cuộc sống mà thường là nhằm mục địch kiếm lời. Vì vậy sau khi nhận hàng từ người bán họ không giữ lại mà chuyển nhượng cho những người mua khác. Và đây cũng là điều mà các nhà làm luật có nghĩ đến, có dự liệu trước.
 Việc thực hiện quyền truy đòi tài sản sẽ gặp những vấn đề phức tạp sau đây:
Thứ nhất, tài sản đã được chuyển giao một cách hợp pháp qua nhiều người, ví dụ, A bán cho B và A bảo lưu quyền sở hữu, B bán cho C, C bán cho D…Trong trường hợp này người bán truy đòi tài sản từ ai trong số những người nói trên và như thế nào?
Thứ hai, sau khi mua tài sản được bảo lưu quyền sở hữu người mua bán lại cho nhiều khách hàng và không loại trừ các khách hàng của người mua đã chuyển nhượng tài sản cho những người khác. Trong trường hợp này người bán khó có thể xác định được hết khách hàng của người mua, những người đã mua tài sản là đối tượng bảo lưu quyền sở hữu. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều khi tài sản đó là động sản và hàng đồng loại.
Thứ ba, tài sản được bảo lưu đã được khách hàng của người mua trộn lẫn với các loại tài sản khác thành tài sản chung hợp nhất. Trong trường hợp này việc truy đòi chính tài sản là đối tượng của bảo lưu quyền sở hữu là không thể mà chỉ có thể truy đòi giá trị của phần tài sản đó. Việc này cũng không thể được thực hiện dễ dàng. Ai sẽ là người xác định tỉ lệ? Ai sẽ bỏ chi phí để thuê giám định? Dưới góc độ kinh tế học thì chi phí giao dịch có thể khá cao và điều này làm giảm đáng kể hiệu quả của giao dịch.
Ngoài những khó khăn khi thực hiện quyền truy đòi tài sản được đề cập ở trên, việc pháp luật cho phép người bán quyền truy đòi tài sản khi người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán có thể mang lại rủi ro cho người thứ ba – là khách hàng của người mua. Trong ví dụ nói trên, nếu hàng hoá vẫn nguyên trạng và không thuộc một trong ba tình huống được thảo luận ở trên thì việc người bán thực hiện quyền truy đòi tài sản từ khách hàng của người mua là điều dễ dàng. Có thể nói rằng, đây được coi là rủi ro mà khách hàng của người mua khó có thể lường trước được và họ có thể phải gánh chịu. Hậu quả lớn hơn của việc này là tạo ra môi trường kinh doanh nhiều rủi ro, trong đó người mua luôn cảm thấy bất an, rằng hàng hoá họ mua có thuộc đối tượng bảo lưu quyền sở hữu theo quy định tại Điều 331 BLDS 2015? Hậu quả cũng sẽ lớn hơn khi người mua và người bán cố tình đưa vào hợp đồng thoả thuận cho phép người mua trả chậm và người bán bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản mua bán.
Theo nguyên tắc chung, hợp đồng làm phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với các bên tham gia. Còn hợp đồng làm phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba được coi là ngoại lệ của nguyên tắc chung đó. Điều này được lý giải bởi việc chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi mà họ thực hiện mà không chịu trách nhiệm về hành vi của người khác. Thế nhưng trong trường hợp này, khách hàng của người mua lại phải chịu trách nhiệm cho những hành vi của người khác. Để khỏi phải chịu rủi ro thì khách hàng của người mua cần phải xác định, tài sản họ mua có thuộc đối tượng bảo lưu quyền sở hữu hay không. Về nguyên tắc thì việc này là có thể. Pháp luật Việt Nam có vẻ như đã dự liệu trước được rủi ro nói trên.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 387 BLDS 2015, trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Theo quy định này thì người mua phải có nghĩa vụ thông báo cho khách hàng của mình biết về việc tài sản mua bán thuộc đối tượng bảo lưu quyền sở hữu, và nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Vấn đề là nếu người mua đã không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho người bán việc bồi thường cho khách hàng là khó có thể xảy ra. Hậu quả là khách hàng của người mua có thể vừa bị truy đòi tài sản, vừa bị thiệt hại nhưng không được bồi thường.
Trong trường hợp người mua không thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Khoản 1 Điều 387 thì theo quy định tại Điều 59 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về Đăng ký biện pháp bảo đảm thì, cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình (khách hàng của người mua) có quyền tìm hiểu hoặc yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được lưu giữ trong số đăng ký, cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm và Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm. Như vậy về mặt lý thuyết, để tránh rủi ro người mua hàng có thể tìm hiểu hàng hoá họ định mua có thuộc đối tượng của bảo lưu quyền sở hữu và biện pháp bảo lưu này có được đăng ký bảo đảm hay không. Tuy nhiên, để có được những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hoá, tài sản có thuộc đối tượng của bảo lưu quyền sở hữu hay không người mua hàng không thể không mất một khoảng thời gian nhất định và trong nhiều trường hợp không tận dụng được những cơ hội kinh doanh của họ.
Ngoài ra theo quy định của pháp luật, cá nhân, pháp nhân và hộ gia đình khi yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm thì phải nộp phí (nếu không nộp phí thì bị từ chối cung cấp thông tin), mức phí đăng ký giao dịch bảo đảm là không đáng kể nhưng thủ tục nộp các loại phí này có thực sự đơn giản hay không.
Liên quan đến vấn đề yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được lưu giữ trong số đăng ký, cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm và Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm một nghịch lý có thể xảy ra, nếu khách hàng của người mua sau khi tìm hiểu họ biết rằng, tài sản họ định mua là đối tượng bảo lưu quyền sở hữu thì liệu họ có mua tài sản đó không. Tin chắc là không có người bình thường nào có thể mua hàng hoá đang bị người khác bảo lưu quyền sở hữu. Ngoài việc hàng hoá đó có khả năng bị truy đòi người mua còn bị nguy cơ đối mặt với hậu quả pháp lý theo Điều 444 BLDS 2015.
Một vấn đề hết sức khó hiểu liên quan đến các quy định của pháp luật về bảo lưu quyền sở hữu. Bởi lẽ theo quy định tại khoản 2 Điều 453 BLDS 2015, bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Như vậy người mua trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần không có quyền định đoạt tài sản, điều này có nghĩa là người mua không có quyền bán tài sản đó cho người khác. Như đã nói ở trên, theo logic thì quy định này cũng được áp dụng cho tình huống theo Điều 331 BLDS 2015. Vậy quyền truy đòi tài sản được hình thành trên cơ sở nào nếu người mua không được phép chuyển nhượng tài sản cho ngưới khác. 
Pháp luật của những quốc gia có sự điều chỉnh bảo lưu quyền sở hữu hết sức thận trọng với quyền truy đòi tài sản. Và hầu hết là không quy định quyền truy đòi mà chỉ coi điều khoản bảo lưu quyền sở hữu là một điều khoản trong hợp đồng mua bán tài sản do các bên thoả thuận. Ví dụ, theo quy định tại khoản 3 Điều 449 BLDS của Đức,  thỏa thuận bảo lưu quyền sở hữu sẽ vô hiệu khi việc chuyển giao quyền sở hữu được thực hiện bởi bên mua nhằm thỏa mãn yêu cầu của bên thứ ba, nhất là khi bên thứ ba này có quan hệ kinh tế với bên bán.
Trong ví dụ được đưa ra nói trên liệu người mua B có quyền bàn hàng hoá không thuộc sở hữu của họ hay không khi mà Điều 444 BLDS 2015 (Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán) quy định, bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp. Khoản 2 Điều này quy định, nếu người thứ ba (trong ví dụ nói trên là người bán A) có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua (trong ví dụ nói trên là người mua C) có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán (trong ví dụ nói trên là người mua B) bồi thường thiệt hại. Trường hợp này được hiểu là tại thời điểm ký hợp đồng mua bán giữa B và C, C không biết tài sản bị người thứ ba (người bán A) tranh chấp. Còn nếu tại thời điểm ký hợp đồng mua bán, người mua C biết hoặc buộc phải biết tài sản họ mua là đối tượng bảo lưu quyền sở hữu của A thì C phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu A và không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Theo quan điểm của tôi thì xuất phát từ khoản 2 Điều 297, Điều 444 BLDS 2015 người mua sẽ không mua tài sản nếu biết được tài sản đó đang là đối tượng bảo lưu quyền sở hữu. Kết quả là người mua đã mất thời gian nhưng cuối cùng hợp đồng không được ký kết. Và nếu người mua không mua tài sản đó thì quy định về quyền truy đòi là không thực tế. Rõ ràng, quy định quyền truy đòi là không thực tế, làm tăng chi phí giao dịch và trong nhiều trường hợp làm cho người mua mất cơ hội kinh doanh.
4. Kết luận: 
Pháp luật của các nước khác nhau có cách tiếp cận không giống nhau về chức năng và vai trò của vấn đề bảo lưu quyền sở hữu đối với hàng hoá đã bán. Pháp luật của Liên Bang Nga chỉ coi bảo lưu quyền sở hữu chỉ là điều khoản do các bên thoả thuận trong hợp đồng (Điều 491 BLDS) . Pháp luật của Đức không coi bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà chỉ xem xét vấn đề này là điều khoản trong hợp đồng mua bán tài sản là động sản . Pháp luật của Pháp (Điều 2367 BLDS ), Điều 9-103 Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code- UCC)   thừa nhận bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ngay cả khi pháp luật của Pháp coi bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên nhiều người cho rằng, không nên chỉ sử dụng biện pháp bảo lưu quyền sở hữu mà còn cần phải sử dụng các biện pháp bảo đảm khác. 
Từ những kết quả phân tích nêu trên, tôi cho rằng:
Thứ nhất, bảo lưu quyền sở hữu không là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bởi lẽ biện pháp bảo đảm này không mang lại cho bên có quyền sự đảm đảo chắc chắn là nghĩa vụ được thực hiện. Trong khi đó các biện pháp bảo đảm khác cho phép bên có quyền có được sự chắc chắn đó. Bên cầm cố, thể chấp không thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền xử lý tài sản thế chấp, cầm cố đó. Trong bảo lưu quyến sở hữu thì sự chắc chắn đó không tồn tại-người mua không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán và cũng không còn tài sản. Nếu so sánh giữa phạt vi phạm hợp đồng với bảo lưu quyền sử hữu thì có thể thấy điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng có tính răn đe cao hơn điều khoản bảo lưu quyền sở hữu. Bởi lẽ kể từ thời điểm ký hợp đồng, các bên bị đặt vào tình thế và buộc phải ý thức được hậu quả mà họ phải gánh chịu nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng. Điều  khoản phạt vi phạm, ngoài việc cho phép bên bị vi phạm đòi lại tài sản (nếu hợp đồng bị huỷ) còn bắt buộc bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt. Tuy nhiên, phạt vi phạm không còn được coi là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo BLDS 2005 và BLDS 2015.
 Cũng theo quan điểm của tôi thì chỉ nên coi bảo lưu quyền sở hữu là một loại điều khoản trong hợp đồng do các bên thoả thuận. Việc thoả thuận bảo lưu quyền sở hữu là xuất phát từ bối cảnh, trong đó có các yêu tố liên quan như loại tài sản mua bán, mua để sử dụng hay mua để bán lại… Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng hợp đồng mà các bên thoả thuận cơ chế, cách thức đòi lại tài sản trong trường hợp người mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Thứ hai, nên có sự phân biệt việc đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 332 BLDS 2015 với việc hoàn trả lại tài sản trong trường hợp hợp đồng bị huỷ theo quy định tại Điều 427 BLDS 2015. Theo tôi thì pháp luật nên cho phép người bán đòi lại tài sản không cần quyết định của Toà án mà chỉ cần bằng chứng người mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Thứ ba, từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi thì việc đăng ký biện pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ cho phép người bán có quyền ưu tiên thanh toán mà không bao gồm quyền truy đòi. Quyền ưu tiên là vấn đề cốt lõi của giao dịch bảo đảm. Đây là đặc quyền dành cho chủ nợ có bảo đảm. Quyền ưu tiên được hiểu là quyền được ưu tiên thanh toán trước chủ thể khác khi xử lý tài sản bảo đảm. Quyền ưu tiên có ý nghĩa trong trường hợp tài sản của bên bảo đảm không đủ thanh toán cho các yêu cầu của các chủ thể.
Thứ tư, tôi cho rằng, mỗi khi đã có quy định Điều 331 BLDS 2015 thì quy định tại Điều 453 BLDS 2015 là không cần thiết. Hoặc nếu giữ lại quy định tại Điều 453 BLDS 2015 thì phải phù hợp với quy định tại Điều 331 BLDS 2015.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT  CỦA THẨM PHÁN
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG TP.HCM

Hợp đồng là sự thoả thuận, sự thoả thuận này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng, có nghĩa là ý chí của các bên được thể hiện một cách tự do, không chịu bất kỳ một sự tác động nào. Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên hoặc một trong các bên khi đàm phán, ký kết hợp đồng ý chí của họ được hình thành một cách không tự nguyện, tức là họ không được tự do trong việc thể hiện ý chí của mình hoặc xuất phát từ những ý niệm không xác thực. Pháp luật gọi các trường hợp này là hợp đồng được ký kết trái nguyên tắc tự do tự nguyện thoả thuận. Những trường hợp này là: nhầm lẫn, lừa dối và đe doạ.
Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn có thể được coi là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên thế nào là nhầm lẫn được xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Pháp luật của các nước hầu như không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý, về vấn đề này có nhiều cách nhìn khác nhau.
Có quan đỉểm cho rằng, nhầm lẫn là những trường hợp hợp đồng được ký kết nhưng ý chí của một hoặc của các bên được hình thành không đúng vì nhiều lý do khác nhau. Nhầm lẫn có thể do các bên chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có thể do các bên không thể hiện sự cẩn thận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của chủ thể hoặc hành vi của người thứ ba . Ý kiến khác cho rằng, nhầm lẫn có nghĩa là hợp đồng được ký kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại kết quả mà các bên hướng đến tại thời điểm ký kết hợp đồng . Có thể nói, nhầm lẫn là khi ý chí của các bên không giống với ý chí của họ trong giai đoạn thống nhất ý chí mặc dù không bị đe doạ hoặc lừa dối.
Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu gặp phải hai vấn đề phức tạp trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn. Một mặt, trên xuất phát từ thuyết ý chí, nhầm lẫn được coi là việc hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể và vì vậy nên cần phải coi hợp đồng đó là vô hiệu. Mặt khác nếu trong mọi trường hợp khi hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể sẽ bị vô hiệu, điều này sẽ tạo ra sự không ổn định, mất trật tự trong lưu thông dân sự và trong hoạt động kinh doanh thương mại- điều mà không ai muốn. Chính vì vậy nên pháp luật cũng như Toà án cẫn phải thận trọng trong việc xem xét hợp đồng vô hiệu. Để tìm giải pháp hài hoà các mối quan hệ trên cần phải phân biệt hai loại nhầm lẫn: nhầm lẫn không có ý nghĩa pháp lý, tức là không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý-là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Như vậy không phải mọi nhầm lẫn đều có ý nghĩa pháp lý đối với bên nhầm lẫn. Điều này là nhất quán trong mọi hệ thống pháp luật.  Tuy nhiên trong thực tiễn việc phân biệt hai loại nhầm lẫn nói trên là việc không đơn giản, trong khi đó hậu quả pháp lý của chúng lại khác nhau.
Có thể nói rằng, nhầm lẫn, nhìn từ góc độ là điều kiện để yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là một trong những vấn đề phức tạp nhất của pháp luật hợp đồng và gây nhiều khó khăn cho người học khi nghiên cứu vấn đề này.
Người bán bán cho người mua một bình gốm Trung Quốc với giá rẻ vì cho rằng, đó là bình gốm giả cổ do người địa phương làm ra. Sau đó người mua phát hiện ra rằng đó là một tác phẩm nghệ thuật vô giá được làm từ thời Nhà Minh. Trong trường hợp này người bán có quyền yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và đòi lại bình cổ với lý do đã không đánh giá chính xác giá trị của chiếc bình hay không? Có hay không có ý nghĩa việc người bán là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đố cổ và có thể đánh giá đúng giá trị của chiếc bình nhưng đã bất cẩn khi thực hiện việc đánh giá? Có quan trọng hay không việc người mua biết chính xác hoặc đoán biết được đó là bình cổ nhưng đã giấu người bán? Sẽ như thế nào nếu cả người bán và người mua của hợp đồng ban đầu đều là các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá đồ cổ? Có ý nghĩa hay không việc người mua, vì tin vào hiệu lực của hợp đồng đã bỏ ra một khoản tiền lớn để phục hồi chiếc bình với mục đích bán lại, hoặc đã bán lại cho người khác? Nếu người mua, một cách trung thực cam kết với người mua rằng, đó là bình dả cổ và yêu cầu người bán thực hiện hợp đồng? Và cuối cùng, nếu người bán yêu cầu người mua trả lại bình, người mua đồng ý nhưng yêu cầu trả mức chênh lệch giá?  Để trả lời câu hỏi nói trên cần phải xem xét một số điều kiện của sự nhầm lẫn.
1. Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 131 BLDS năm 2005 về “giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn” quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”. Như vậy theo pháp luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của hợp đồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nội dung, tuy nhiên có thể hiểu rằng, trong nội dung của hợp đồng có rất nhiều vấn đề, ví dụ, đối tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc. ..
Cách tiếp cận trên trong pháp luật của Việt Nam, có thể nói là tương tự với pháp luật của nhiều nước. Theo Điều 178 BLDS Liên Bang Nga, hợp đồng được ký kết do bị nhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị toà án tuyên bố vô hiệu khi có sự yêu cầu của bên bị nhầm lẫn. Nhầm lẫn nghiêm trọng là nhầm lẫn liên quan đến: bản chất của hợp đồng hoặc tương tự hay liên quan đến những đặc tính của đối tượng làm giảm khả năng đáng kể việc sử dụng chúng theo mục đích. Nhầm lẫn liên quan đến động cơ của giao dịch không được coi là có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
Khác với pháp luật của Việt Nam và Liên Bang Nga, pháp luật của nhiều nước có quy định nhầm lẫn về chủ thể, tuy nhiên chỉ trong một số trường hợp hạn chế. Điều 1110 BLDS Pháp quy định “Sự nhầm lẫn chỉ là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi đó là sự nhầm lẫn về bản chất của vật hoặc công việc là đối tượng của hợp đồng. Sự nhầm lẫn về chủ thể giao kết không thể là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp việc xem xét nhân thân người đó là căn cứ chính dẫn đến việc giao kết hợp đồng”. Pháp luật của Anh xem xét nhầm lẫn về chủ thể rất hạn chế và chỉ trong một số trường hợp đặc biệt. Theo pháp luật của Anh, nhầm lẫn về chủ thể chỉ có thể xảy ra trong trường hợp, ví dụ, A ký hợp đồng với B vì tưởng B là C . Bộ Luật Dân sự Bắc Kỳ và Trung Kỳ trước đây cũng có quy định nhầm lẫn về chủ thể , tuy nhiên chỉ giới hạn trong một số trường hợp, ví dụ: sự quan tâm về căn cước, về phẩm hạnh và tài năng của cá nhân là lý do quyết định để kết ước .
Không quy định nhầm lẫn về chủ thể có phải là khiếm khuyết của pháp luật hợp đồng Việt Nam hay không? Và việc thiếu vắng quy định của pháp luật trong trường hợp này gây ra những hậu quả pháp lý như thế nào? Có tác giả cho rằng, pháp luật quy định như vậy là chưa đủ, bởi lẽ trong thực tế, hoàn toàn có thể xảy ra nhầm lẫn về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và mặc dù pháp luật chưa quy định nhưng thực tiễn xét xử đã thừa nhận nhầm lẫn về chủ thể . Để chứng minh cho nhận định của mình tác giả đã sử dụng Bản án Phúc thẩm .  Ông Trường và bà Thu có lập hợp đồng thỏa thuận hợp tác thành lập Công ty cổ phần đầu tư thẩm mỹ Xuân Trường với ngành nghề kinh doanh gồm mua bán mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, dụng cụ thẩm mỹ, y ngoại tổng quát, đào tạo nghề. Hai tháng sau khi thành lập giữa các chủ thể phát sinh tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã tuyên hợp đồng hợp tác giữa ông Trường và bà Thu là vô hiệu do nhầm lẫn (Tòa án đã viện dẫn Điều 131, BLDS năm 2005). Tòa án cho rằng sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của bà Thu bởi bà đã nhầm “y ngoại tổng quát” là “phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ”. Tôi cho rằng, trong vụ việc nói trên, với cách quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Toà án đã thiếu chính xác trong việc lựa chọn quy định của pháp luật để áp dụng, bởi lẽ: thứ nhất, pháp luật Việt Nam không quy định nhầm lẫn về chủ thể; thứ hai, trong trường hợp này toà án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp dồng vô hiệu do: i) vi phạm điều kiện về chủ thể, ông Trường là bác sĩ thì ông biết và buộc phải biết ông ta không có chuyên môn phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, hoặc; ii) vi phạm điều cấm của pháp luật vì đây là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Mặt khác việc áp dụng quy định về nhầm lẫn sẽ dẫn đến rủi ro pháp lý trong trường hợp Toà án thụ lý vụ án khi đã quá thời hạn 2 năm kể từ ngày ký hợp đồng theo Khoản 1 Điều 136. Theo quan điểm của tôi, trong vụ việc nói trên sẽ hợp lý và thuyết phục hơn nếu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Mặc dù Bản án được tác giả sử dụng thiếu chính xác, tuy nhiên tôi chia sẽ với tác giả, rằng trong BLDS Việt Nam cần phải bổ sung quy định nhầm lẫn về chủ thể trong một số trường hợp, khi yếu tố nhân thân là động lực chủ yếu để bên nhầm lẫn ký kết hợp đồng.
2. Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng. Điều 131 BLDS 2005 chỉ quy định nhầm lẫn sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quy định mức độ, tính chất của nhầm lẫn. Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy định những tiêu chí để xác định một sự nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm lẫn. Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể giải quyết được vấn đề đặt ra. Trong ví dụ mua bán bình cổ nói trên, nếu người bán là chuyên gia trong lĩnh vực đồ cổ thì sự nhầm lẫn không thể coi là nghiêm trọng. Bởi lẽ người bán biết hoặc buộc phải biết về đối tượng của hợp đồng. Nếu người mua là chuyên gia đồ cổ, còn người bán là người bình thường thì sự nhẫm lẫn của người bán có thể coi là nghiêm trọng. Nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa nếu nó là động lực chủ yếu để bên bị nhầm lẫn ký kết hợp đồng. Với tư cách là động lực chủ yếu nhầm lẫn chỉ được xem xét nếu nó là cơ sở duy nhất để bên bị nhầm lẫn ký hợp đồng. Nếu còn có khả năng ký hợp đồng với những điều kiện khác thì không thể coi nhầm lẫn là động lực chủ yếu. Thực tiễn xét xử của nhiều nước không coi hợp đồng vô hiệu nếu nhầm lẫn là do động cơ thông thường. Nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý chỉ trong trường hợp, nếu sự nhầm lẫn đó có liên quan đến đặc tính, vì nó mà các bên đạt được sự thoả thuận một cách trực tiếp.
Có thể nhận thấy, việc pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng nhầm lẫn đến mức nào thì có ý nghĩa pháp lý trong xác định hiệu lực của hợp đồng cộng với việc pháp luật không thừa nhận án lệ sẽ làm cho Toà án gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử. Bởi lẽ khó có tìêu chí rõ ràng kho đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhầm lẫn. Trong vụ kiện giữa Công ty Việt Á Châu và Công ty Connell Bros , theo hợp đồng Công ty Connell Bros bán cho Công ty Việt Á Châu sản phẩm hoá chất Myflame 84527E. Giữa các bên phát sinh tranh chấp liên quan đến chất lượng của Myflame 84527E. Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn vì lý do sản phẩm Myflame 84527E được dùng cho nguyên liệu vải Polyester và Oxphor nhưng lại ghi trong hợp đồng và trong bill nhận hàng là chất Myflame 84527E dùng cho nguyên liệu PO (da thuộc). Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp này hợp đồng không thể vô hiệu do nhầm lẫn . Tôi cho rằng, mặc dù cả hai bên có sự nhầm lẫn PO và PU, tuy nhiên sự nhầm lẫn này không không có ý nghĩa pháp lý bởi không liên quan đến bản chất, đặc tính của hàng hoá là đối tượng của hợp đồng và cả hai bên đều biết nguyên liệu PO không tồn tại trên thị trường 30 năm và không có thực. Việc nhầm lẫn này không phải là lý do chủ yếu để các bên ký kết hợp đồng.Mặc dù các bên đã thừa nhận có sự nhầm lẫn về tên gọi PO và PU nhưng không theo tôi ở đây đã có sự không thống nhất giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ được sử dụng trong hợp đồng. Chình vì vạy nên có thể nói Quyết định của Toà án vi phạm Điều 409 BLDS 2005 về giải thích hợp đồng, theo đó trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ của hợp đồng thì cần phải dựa vào chí chí chung của các bên.
3. Một vấn đề nữa cần phải được xem xét một cách thận trọng dưới góc độ pháp lý khi xác định nhầm lẫn là có cần thiết phải xác định lỗi của một bên là nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn của bên kia hay không. Vấn đề này được xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành , nhầm lẫn phải do hành vi lỗi vô ý của một bên gây ra. Điều đó có thể hiểu rằng, nếu không có lỗi của một bên thì không có sự nhầm lẫn hay nhầm lẫn (nếu có) sẽ không có ý nghĩa pháp lý và không thể là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu . Cũng có thể hiểu rằng, các nhà làm luật Việt Nam không loại trừ nhầm lẫn không phải do lỗi bên kia, tuy nhiên họ chỉ cho rằng, nhầm lẫn do lỗi của bên kia mới có thể có ý nghĩa pháp lý và có thể được coi là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Khác với pháp luật của Việt Nam, pháp luật của hầu hết các nước không xem xét lỗi của một bên là điều kiện của nhầm lẫn mà chỉ quan tâm đến mức độ nhận thức của chủ thể bị coi là có sự nhầm lẫn tại thời điểm ký kết hợp đồng. Ví dụ, Điều 1110 BLDS Pháp, Điều 178 BLDS Liên Bang Nga. Tuy nhiên khi xem xét kỹ pháp luật và án lệ cũng thực tiễn giải quyết tranh chấp của các nước có thể nhận thấy rằng, một cách gián tiếp quy định một bên bị nhầm lẫn là do hành vi vô ý của bên kia. Trong trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do bị nhầm lẫn, nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được rằng, nhầm lẫn xảy ra là do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bồi thường những thiệt hại thực tế. Nếu bên yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn không chứng minh được bên kia có lỗi dẫn đến sự nhầm lẫn thì phải bồi thường thiệt hại thực tế cho bên kia, ngay cả khi sự nhầm lẫn xảy ra do những tình huống không phụ thuộc vào bên bị nhầm lẫn .
Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC) và Bộ nguyên tắc luật hợp đồng của châu Âu cũng không coi lỗi là điều kiện của nhầm lẫn. Điều 3.5 PICC quy định các điều kiện của nhầm lẫn- căn cứ yêu cầu hợp đồng vô hiệu nếu sự nhầm lẫn là lớn đến mức mà một người bình thường, trong hoàn cảnh tương tự sẽ chỉ giao kết hợp đồng với những điều khoản khác hoặc sẽ không khi nào giao kết hợp đồng đó nếu biết sự thực và: i) phía bên kia cũng có sự nhầm lẫn tương tự, có nghĩa là sẽ không ký hợp đồng nếu biết rõ sự thực, ở đây muốn nói là cả hai cùng nhầm lẫn. Như vậy trong trường hợp này nhầm lẫn không là hậu quả của hành vi vô ý của bên kia; ii) phía bên kia có hành vi (vô ý) gây ra nhầm lẫn, trường hợp này có thể nói là giống với quy định của pháp luật Việt Nam, việc gây ra nhầm lẫn ở đây có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, trực tiếp hay ngầm hiểu; iii) bên kia biết hay không thể không biết về sự nhầm lẫn nhưng vẫn để đối tác tiếp tục nhầm lẫn trái với những tiêu chuẩn về thiện chí và trung thực trong thương mại thông thường.Trường hợp này có thể hiểu rằng, một bên biết bên kia nhầm lẫn nhưng đã không hành động một cách trung thực thì bên bị nhầm lẫn có thể yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu. Trong ví dụ trên, nếu người mua biết rõ ràng rằng, chiếc bình là bình cổ và cũng biết chắc chắn rằng người bán không biết điều đó thì người bán có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên các điều kiện nói trên mới chỉ là điều kiện cần. Hợp đồng chỉ có thể bị tuyên bố vô hiệu khi có thêm điều kiện đủ, đó là bên không bị nhầm lẫn đã không hành động một cách hợp lý vào thời điểm hợp đồng vô hiệu bằng cách dựa vào các điều khoản của hợp đồng. Điều này có nghĩa mặc dù biết và buộc phải biết hợp đồng vô hiệu nhưng vẫn thực hiện hợp đồng. Điều 4:103 Bộ nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu cho phép một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (nếu các điều kiện khác hội đủ) khi: (i) nhầm lẫn được gây ra do thông tin của bên kia cung cấp, (ii) bên kia biết hoặc phải biết có nhầm lẫn nhưng đã để cho nạn nhân nhầm lẫn trái với nguyên tắc thiện chí, (iii) hoặc bên kia cũng có cùng nhầm lẫn.
Khoản 2 Điều 131 BLDS 2005 quy định, trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này. Có lẽ vì quy định này nằm trong Điều 131 BLDS dưới tên gọi “Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn ” nên có tác giả cho rằng, BLDS năm 2005 dự liệu hai trường hợp nhầm lẫn của một bên: nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của bên kia và thực tế cho thấy hai loại nhầm lẫn này hoàn toàn có thể tồn tại.   Ở đây tôi cho rằng, tác giả đã có sự hiểu chưa thấu đáo ý tứ của nhà làm luật khi xây dựng Khoản 2 Điều 131 BLDS. Tôi cho rằng, BLDS không coi nhầm lẫn là do lỗi cố ý của một bên mà bằng khoản 2 chỉ nhấn mạnh rằng, nếu một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung của giao dịch thì bị coi là lừa dối. Thật vậy khi một bên có hành vi cố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung cả hợp đồng tức là trong hành vi đó bao gồm các thủ đoạn gian dối. Một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai bởi lẽ biết rằng, nếu không như vậy thì bên kia hiểu đúng về nội dung của hợp đồng thì sẽ không bao giờ ký. Tôi cho rằng, việc pháp luật không coi nhầm lẫn khi một bên có lỗi cố ý là phù hợp với thực tiễn và tương thích với pháp luật của các nước cũng như thông lệ quóc tế. Ví dụ, Điều 1116 BLDS Pháp, Điều 179 BLDS Liên Bang Nga.
4. Cùng nhầm lẫn: Pháp luật Việt Nam có xem xét trường hợp khi cả hai bên cùng nhầm lẫn hay không? Đây là vấn đề đã có tác giả đặt ra trong khoa học pháp lý Việt Nam . Không riêng gì pháp luật Việt Nam mà pháp luật của nhiều nước không đề cập đến vẫn đề này một cách trực tiếp , ví dụ, Bộ luật Dân sự của Đức, Pháp, Liên bang Nga và chỉ có pháp luật của mốt số nước  và Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu lại quy định vấn đề này khá cụ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, việc pháp luật có quy định cả hai bên cùng nhầm lẫn một cách trức tiếp hay không ít có ý nghĩa pháp lý bởi lẽ:
Thứ nhất, mặc dù không quy định trực tiếp nhưng điều đó không có nghĩa pháp luật các nước không có sự điều chỉnh loại nhầm lẫn này.  Rõ ràng, với cách quy định tại Điều 131 BLDS nhiều người có thể hiểu rằng, theo pháp luật Việt Nam chỉ có một bên trong giao dịch bị nhầm lẫn. Tôi cho rằng, với cách quy định tại Điều 131 BLDS cũng có thể hiểu rằng, hoàn toàn có thể có truờng hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn. Đó là những trường hợp cả hai bên đều có hành vi vô ý và làm cho bên kia hiểu nhầm. Và trong những trường hợp này cả hai bên đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Thứ hai, theo quan điểm của tôi thì pháp luật quốc gia cũng không nhất thiết quy định rõ trường hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn, bởi lẽ vấn đề này có thể được giải quyết bằng các công cụ pháp lý khác. Để làm sáng rõ loại nhầm lẫn này  người ta thường lấy ví dụ: A và B, khi giao kết hợp đồng bán một xe hơi thể thao, đều không thể biết hay không thểbiết thực sự là chiếc xe hơi này là xe hơi bị ăn cắp.Việc huỷ bỏ hợp đồng này là chấp nhận được . Trong thực tiễn xét xử của Việt Nam có một bản án tương tự . Anh Mạnh mua xe của anh Thắng, anh Thắng mua xe của anh Quang, sau một thời gian thì mới biết rằng, xe là tang vật của một vụ cướp tài sải. Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn bởi lẽ cho rằng cả A và B đều nhầm lẫn. Trong khoa học pháp lý Việt Nam có người đồng tình với cách giải quyết nói trên của Toà án . Tôi cho rằng, trong ví dụ nói trên có thể có hai cách giải quyết: i) hợp đồng vô hiệu do cả hai đều nhầm lẫn – cả hai đều tưởng rằng, chiếc xe thuộc sở hữu của người bán và; ii) hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật- người bán không là chủ sở hữu của chiếc xe theo quy định tại Điều 255 BLDS 1995, Điều 247 BLDS 2005. Theo tôi, trong trường hợp nói trên Bản án của Toà án là không thuyết phục vì hai lẽ: thứ nhất, thiếu căn cứ pháp lý vì pháp luật không quy định cả hai cùng nhầm lẫn; thứ hai, theo tinh thần của Điều 141, chỉ có bên bị nhầm lẫn mới có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, thế nhưng ở đây Toà án đã tuyên vô hiệu khi không có yêu cầu; thứ ba, nếu chiếc xe bị phát hiện là tang vật của vụ cướp sau thời hạn 1 năm kể từ ngày ký hợp đồng giữa anh Mạnh và anh Thắng thì quyết định của Toà án sẽ vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 145 BLDS 1995. Theo quan điểm của chúng tôi, trong trường hợp này sẽ thuyết phục hơn nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu do vi phạm Điểm b, Khoản 1 Điều 122 và Điều 128 BLDS 2005 (Khoản 2 ĐIều 131 và Điều 137 BLDS 1995).
Thứ ba, ở nhiều nước, mặc dù pháp luật không quy định trực tiếp, tuy nhiên sự khiếm khuyết này của pháp luật được khắc phục bằng thực tiễn xét xử của. Trong thực tiễn xét xử của một số nước cả hai bên cùng nhầm lẫn là những trường hợp, ví dụ, tại thời điểm ký kết hợp đồng tài sản là đối tượng của hợp đồng không còn tồn tại, hoặc trường hợp các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại thời điểm ký kết hợp đồng không biết người được bảo hiểm đã chết .
4. Sự tồn tại các điều kiện nói trên chỉ là điều kiện cần để hợp đồng vô hiệu mà chưa phải là điều kiện đủ. Để tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn, theo ý kiến của tôi, ngoài các điều kiện nói trên còn cần phải có các điều kiện đủ. Liên quan đến vấn đề này trong pháp luật Việt Nam chỉ có một quy định mang tính chất chung tại khoản 1 Điều 136 BLDS 2005, nếu bên bị nhầm lẫn không yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong thời hạn hai năm kể từ thời điểm ký hợp đồng thì mất quyền viện dẫn Điều 131 . Chúng tôi cho rằng, sự để ngỏ này sẽ tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng Điều 131 BLDS 2005, nhất là khi chức năng giải thích pháp luật của thẩm phán bị hạn chế và án lệ không được thừa nhận.
 Khác với pháp luật của Việt Nam, vấn đề này được pháp luật và thực tiễn xét xử của các nước giải quyết triệt để, thấu đáo hơn tuỳ thuộc vào các điều kiện cần sau đây: Thứ nhất, nhận thức của bên bị nhầm lẫn, trong mọi trường hợp không phụ thuộc vào nguyên nhân bị nhầm lẫn, bên bị nhầm lẫn mất quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu bên bị nhầm lẫn biết và buộc phải biết về sự nhầm lẫn. Thứ hai, nhận thức của bên không nhầm lẫn, nhầm lẫn liên quan đến nội dung chủ yếu của hợp đồng là điều kiện để hợp đồng vô hiệu nếu chứng minh được rằng, bên kia, với tư cách là người bình thường, biết hoặc buộc phải biết về sự nhầm lẫn này nếu thể hiện được sự chú ý, cẩn trọng. Thứ ba, thời điểm thông báo cho bên kia (bên không bị  nhầm lẫn), bên bị nhầm lẫn phải thông báo kịp thời về sự nhầm lẫn của mình cho bên kia. Kịp thời có nghĩa là phải thống báo trước thời điểm bên kia, vì tin vào hiệu lực của hợp đồng đã có những hành vi cụ thể, ví dụ, bán lại, sửa chữa vật…Ví dụ, theo quy định tại Điềi 871 Bộ luật Dân sự Áo, trong trường hợp người bán nhầm lẫn về đặc tính của hàng hoá thì người bán mất quyền viện dẫn đến nhầm lẫn nếu hàng hoá đã được người mua bán lại hoặc đã cho thuê, ngoại trừ trường hợp người mua biết về sự nhầm lẫn hoặc có hành vi làm cho người bán nhầm lẫn.
Kết luận: Nhầm lẫn với tư cách là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu là một trong những nội dung phức tạp của pháp luật hợp đồng, tuy nhiên chưa có sự quan tâm đáng kể trong pháp luật Việt Nam. Từ những phân tích, bình luận và đánh giá ở trên tôi cho rằng, i) Pháp luật Việt Nam cần phải xây dựng, bổ sung một cách cụ thể hơn các quy định về điều kiện, tính chất và đối tượng của nhầm lẫn; ii) Cần phải nâng cao vai trò và năng lực giải thích pháp luật của thẩm phán khi áp dụng pháp luật, bởi lẽ, thứ nhất, pháp luật dù hoàn thiện đến mấy cũng khó có thể cụ thể đến mức chi tiết; thứ hai, thực tiễn xét xử ở Việt Nam cho thấy rằng, có rất nhiều bản án Toà án đã áp dụng pháp luật một cách máy móc, thiếu sự giải thích. 

MỘT SỐ YÊU CẦU KHI XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

MỘT SỐ YÊU CẦU KHI XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
PGS-TS. Dương Anh Sơn, Trường đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TP. HCM

Hợp đồng có vai trò đặc biệt trong đời sống hàng ngày và trong hoạt động kinh doanh thương mại. Chính vì vậy việc xây dựng pháp luật cho hợp đồng cần phải được quan tâm thích đáng bởi lẽ hệ thống pháp luật hợp đồng tốt, hoàn thiện sẽ tạo ra và duy trì trật tự cho lưu thông dân sự, hoạt động thương mại. Tôi cho rằng, pháp luật hợp đồng chỉ có thể hoàn chỉnh, thực sự tốt khi và chỉ khi chúng được xây dựng trên cơ sở đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Trong phạm vi bài viết tôi muốn đề cập đến các yêu cầu đó.
1. Pháp luật hợp đồng cần phải mềm dẻo và uyển chuyển. Pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng cần phải phản ánh được sự thay đổi của xã hội. Trong hàng ngàn năm thực hiện đúng hợp đồng được coi là nguyên tắc nền tảng của việc thực hiện hợp đồng và pháp luật hợp đồng phản ánh trung thực nguyên tắc này. Thật vậy, trong bối cảnh xã hội ít có sự thay đổi thì các quy định của pháp luật hợp đồng cần phải có tính cứng nhắc theo kiểu “bút sa gà chết”. Sự cứng nhắc này đã phát huy được hiệu quả điều chỉnh bởi chúng hạn chế, ngăn chặn được sự không thiện chí, trung thực của một trong các bên của hợp đồng và  đã góp phần tạo lập và giữ được sự ổn định cho lưu thông dân sự, hoạt động kinh doanh thương mại.
Tự do hóa thương mại làm cho thế giới trở nên phẳng hơn và vì vậy các quốc gia bị lệ thuộc vào nhau nhiều hơn và đương nhiên là xã hội có nhiều biến động hơn, cả về biên độ và cả về chu kỳ. Trong bối cảnh đó thì tính cứng nhắc của pháp luật tỏ ra không còn phù hợp, bởi lẽ không những không tạo được sự ổn định cho lưu thông dân sự mà còn trong nhiều trường hợp có thể phá vỡ trật tự này. Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện hiện nay, để lưu thông dân sự có được sự ổn định, vận hành một cách có trật tự thì pháp luật hợp đồng phải trở nên mềm dẻo, uyển chuyển hơn. Lạt mềm buộc chặt, pháp luật càng mềm dẻo bao nhiêu thì xã hội càng có trật tự bấy nhiêu. Để pháp luật hợp đồng trở nên mềm dẻo, uyển chuyển hơn, theo quan điểm của chúng tôi, chúng phải thỏa mãn những yêu cầu sau đây:
 Thứ nhất, các quy định của pháp luật hợp đồng nên có tính khái quát cao, độ mở phải đủ rộng để có thể giải thích khi áp dụng. Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, vì vậy bất kỳ sự thỏa thuận nào nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đều được coi là hợp đồng. Cuộc sống phong phú và đa dạng và pháp luật không thể bao quát hết tất cả mọi vấn đề trong xã hội. Hơn thế nữa pháp luật cũng chỉ có thể quy định chị tiết, cụ thể cho một số trường hợp mà không thể cho tất cả. Mặt khác, tôi cho rằng, cuộc sống hàng ngày, hoạt động kinh doanh thương mại là tập hợp những cuộc chơi (các trò chơi), các chủ thể đồng thời tham gia vào các cuộc chơi khác nhau. Khi các bên tham gia đàm phán ký kết hợp đồng có nghĩa là các bên bắt đầu tham gia cuộc chơi. Một điều có thể nhận thấy là bất kỳ cuộc chơi (trò chơi) nào cũng có quy tắc. Vậy có thể cho rằng, pháp luật hợp đồng chính là quy tắc chung cho mọi cuộc chơi và mỗi khi là quy tắc chung cho mọi cuộc chơi thì không thể và không nên chi tiết và cụ thể mà nên và chỉ nên có tính khái quát. Còn hợp đồng chính là quy tắc cho từng cuộc chơi đơn lẻ, quy tắc này cần phải được xây dựng trên cơ sở quy tắc chung (pháp luật hợp đồng). Vì là quy tắc cho từng cuộc chơi cụ thể nên hợp đồng cần phải chi tiết và cụ thể, có như vậy mới có thể phản ánh được những đặc điểm của từng loại hợp đồng.
Vấn đề nữa là nếu các quy định của pháp luật thiếu tính khái quát và chỉ quy định cụ thể chi tiết cho một số vấn đề thì hậu quả sẽ là: đối với những vấn đề đã được quy định chi tiết và cụ thể thì chúng sẽ được áp dụng một các máy móc, thiếu sự xét đoán, giải thích các quy định đó. Đối với những trường hợp pháp luật chưa quy định (thường là như vậy, bởi như đã nói ở trên, pháp luật không thể bao quát hết mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng) thì những chủ thể áp dụng pháp luật sẽ gặp nhiều khó khăn, bởi lẽ khả năng giải thích pháp luật là rất hạn chế. Tính khái quát của các quy định pháp luật hợp đồng cho phép các bên giải thích hợp đồng tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Tất nhiên để làm được điều này thì cũng cần phải chú ý đến việc nâng cao năng lực giải thích pháp luật của các thẩm phán.
Thứ hai, hạn chế sử dụng các quy phạm mệnh lệnh, gia tăng sử dụng các quy phạm tùy nghi. Xuất phát từ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận nên cần phải có sự cẩn trọng khi sử dụng các quy phạm mệnh lệnh. Việc sử dụng một cách tùy tiện, thiếu thận trọng các quy phạm mệnh lệnh vô hình chung sẽ hạn chế, can thiệp không cần thiết tự do hợp đồng và điều này dẫn đến việc hạn chế khả năng sáng tạo của các chủ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, các quy phạm mệnh lệnh chỉ nên được sử dụng chủ yếu trong phạm vi điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng.
Các quy định điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên nên là các quy phạm tùy nghi. Xuất phát từ thực tiễn, rằng chỉ có các bên của hợp đồng mới là người biết rõ ràng nhất, họ cần phải làm gì vì lợi ích của họ trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nào đó. Các nhà làm luật không ở vào vị thế của các bên trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó nên không thể làm thay các bên. Hợp đồng là sự thỏa thuận vì vậy pháp luật chỉ can thiệp khi các bên không có sự thỏa thuận. Liên quan đến các quy định của pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thì chỉ sử dụng quy phạm mệnh lệnh trong một chừng mực nhất định và trong những trường hợp có thể được coi là ngoại lệ. Ví dụ, nhằm để ưu tiên bảo vệ bên yếu thế hoặc ngăn chặn những hành vi cố tình vi phạm hợp đồng.
Thứ ba, như đã được đề cập ở trên, trong bối cảnh xã hội thường xuyên có sự biến động lớn cả về biên độ và chu kỳ thì sự cứng nhắc của pháp luật trong nhiều trường hợp sẽ làm giảm tính hiệu quả của pháp luật hợp đồng. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì hợp đồng chỉ có thể được sửa đổi khi và chỉ khi có sự thỏa thuận của các bên (ngoại trừ  ĐIều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Điều này có nghĩa là cho dù điều kiện hoàn cảnh có thay đổi như thế nào đi nữa và đến mức có sự khác biệt rất cơ bản với điều kiện, hoàn cảnh tại thời điểm ký kết hợp đồng thì các bên vẫn phải thực hiện hợp đồng nếu không đạt được sử thỏa thuận về sửa đổi hợp đồng. Điều này có nguy cơ phá vỡ trật tự xã hội. Bởi lẽ bên bị thiệt hại quá lớn do sự thay đổi của hoàn cảnh không phải do lỗi của họ mà hoàn toàn do khách quan. Một bên bị thiệt hại thì đương nhiên bên kia sẽ được hưởng lợi. Ở đây bên được hưởng lợi không phải vì sự cố gắng của họ mà là hưởng lợi trên sự thiệt hại của người khác. Đây không phải là phần thưởng vì chẳng có lý do gì để anh ta được thưởng cả, hơn thế nữa anh ta không đáng được nhận khoản lợi ích-phần thưởng đó. Điều này có thể dẫn đến việc bên bị thiệt hại có thể vi phạm hợp đồng-trât tự sẽ bị phá vỡ. Sẽ là công bằng nếu trong những tình huống nói trên bên được hưởng lợi cần phải biết chia sẻ với người bị thiệt hại. Để có thể giải quyết một cách hợp lý tình trạng nói trên, pháp luật nên thiết kế cơ chế bắt buộc các bên phải sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tôi đồng ý với quan điểm, hợp đồng cần phải được tiếp cận theo hướng là một quá trình. 
2. Pháp luật hợp đồng cần phải nhất quán và Bộ luật Dân sự phải có sứ mạng đảm bảo cho sự thống nhất đó. Pháp luật hợp đồng được coi là lĩnh vực pháp luật xuyên suốt cả toàn bộ hệ thống pháp luật của quốc gia. Hợp đồng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau, vì vậy đảm bảo tính thống nhất của pháp luật hợp đồng là việc hết sức cần thiết. Bộ luật Dân sư được coi là cơ sở nền tảng của lĩnh vực luật tư, chính vì vậy các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sư phải đảm nhận được vai trò chính yếu, là cơ sở để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật hợp đồng. Đảm bảo sự thống nhất của pháp luật hợp đồng được lý giải bởi việc:i) pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng là thể thống nhất, không phân chia; ii) trong khoa học pháp lý và trong pháp luật cũng như thực tiễn ở các nước phát triển không có sự phân chia tách bạch hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại; iii) đảm bảo tính hiệu quả của pháp luật cũng như của hoạt động áp dụng pháp luật.
Trước đây, chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 1995 và cả 2005 chưa được coi là đóng vai trò trung tâm của pháp luật hợp đồng, điều này dẫn đến việc là tồn tại nhiều mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ luật Dân sự với các quy định liên quan trong các văn bản pháp luật khác: Mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự với Luật Thương mại, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bảo hiểm…Và để giải quyết những mâu thuẫn đó các nhà làm luật Việt Nam đã sáng tạo những quy định chỉ có trong pháp luật Việt Nam, ví dụ quy định tại khoản 3 ĐIều 1 Luật Thương mại, bắt buộc phải tìm tiêu chí để phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng thương mại hoặc đưa ra những khái niệm luật chung và luật chuyên ngành, hoặc trong hệ thống tòa án thì có tòa dân sự và tòa kinh tế.
Chúng tôi cho rằng, quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005 được hiểu là các bên trong hợp đồng có quyền chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Chọn luật cho hợp đồng chỉ tồn tại trong hợp đồng thương mại quốc tế. Hợp đồng được ký kết và thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia, giữa các chủ thể cùng thực hiện hoạt động trên lãnh thổ của một quốc gia thì vấn đề chọn luật áp dụng cho hợp đồng không thể được đặt ra.
Có thể thể phân biệt được hợp đồng dân sự với hợp đồng thương mại hay không? Câu trả lời rằng, trong nhiều trường hợp là không thể. Có lẽ chỉ có trong khoa học pháp lý Việt Nam mới có các thuật ngữ “Hợp đồng dân sự” và “hợp đồng thương mại”. Ở các nước phát triển, việc phân chia hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chỉ mang tính ước lệ và chỉ là câu chuyện của khoa học pháp lý, còn thực tiễn và pháp luật thì không có sự phân chia. Điều này được lý giải bởi việc pháp luật hợp đồng của họ có mức độ thống nhất cao.
Mọi hoạt động kinh tế đều chịu chi phí giao dịch . Nhiệm vụ của pháp luật, của kinh tế học, của quản trị học là tìm mọi cách để giảm chi phí giao dịch. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch là pháp luật. Các lý thuyết của kinh tế học đã chỉ ra rằng, pháp luật càng rõ ràng, mức độ thống nhất càng cao thì chi phí giao dịch càng thấp. Ngoài ra, tính rõ ràng và thống nhất của pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng sẽ làm cho cá nhân, tổ chức và các nhà đầu tư hạn chế được rủi ro, bởi lẽ họ có thể dự đoán được có những rủi ro gì đang chờ họ và sẽ có cách khắc phục.
Chính vì những lý do nói trên nên khi xây dựng Bộ luật Dân sự cần tuyên bố một cách rõ ràng rằng, các quy định về hợp đồng trong các văn bản pháp luật khác không được trái với quy định của Bộ luật Dân sự mà chỉ có thể cụ thể hóa chúng mà thôi. Về vấn đề này chúng ta có thể tham khảo Bộ luật Dân sự của một số quốc gia. Ví dụ, Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga, một cách khái quát đề cập đến các loại hợp đồng (ở Việt Nam một phần các hợp đồng này được quy định trong Bộ luật Dân sư 2005, một phần được quy định trong Luật Thương mại 2005). Ở Việt Nam chúng ta hiện nay có nhiều loại hợp đồng được quy định trong Luật Thương mại có bản chất giống với hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sư (mua bán hàng hóa  và mua bán tài sản, hợp đồng đại diện cho thương nhân với hợp đồng ủy quyền, hợp đồng thuê hàng hóa với hợp đồng thuê tài sản, gia công trong thương mại với hợp đồng gia công…). Chúng tôi cho rằng, sự lặp lại nói trên là không cần thiết,  và vấn đề trở nên rắc hơn khi có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa chúng.
3. Tôn trọng tự do hợp đồng đúng chỗ và giới hạn tự do hợp đồng cũng đúng chỗ là yêu cầu quan trọng đối với pháp luật hợp đồng. Về nguyên tắc, tự do hợp đồng phải là nguyên tắc nền tảng của pháp luật hợp đồng và giới hạn tự do hợp đồng được coi là ngoại lệ của nguyên tắc đó. Và mỗi khi là ngoại lệ thì khi giới hạn tự do hợp đồng cần thiết phải giải thích, Như đã đề cập ở trên, pháp luật hợp đồng cần phải mềm dẻo và uyển chuyển. Để đạt được điều này thì các quy định mang tính mệnh lệnh chỉ được sử dụng ở mức tối thiểu, khi điều chỉnh những vấn đề thật cần thiết. Tôn trọng tự do hợp đồng có nghĩa là hạn chế các quy định có tính mệnh lệnh   và đây cũng được coi là điều kiện tiên quyết khuyến khích sự sáng tạo của các chủ thể.
Nếu nói rằng, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, thì triết lý của pháp luật hợp đồng chính là sự giới hạn tự do hợp đồng. Như vậy một mặt cần phải tôn trọng tự do hợp đồng, mặt khác cần phải giới hạn tự do này. Về nguyên tắc các bên trong hợp đồng có địa vị pháp lý bình đẳng, tuy nhiên trong thực tế điều này ít xảy ra. Sự không bình đẳng này có thể xuất phát từ nhận thức, mức độ kinh nghiệm hay sự hiểu biết của các bên về hợp đồng, đối tượng hợp đồng cụ thể, mức độ sở hữu thông tin không giống nhau. Trong thực tế, bên có kinh nghiệm hơn, mạnh hơn, nắm giữ thông tin nhiều hơn thường đưa vào hợp đồng các điều khoản bất lợi cho bên kia-những điều khoản mà ở các nước văn minh được biết đến dưới tên gọi-điều khoản hợp đồng không công bằng.
Thật vậy, không thể có sự bình đẳng thực tế giữa công ty kinh doanh bảo hiểm với khách hàng, giữa ngân hàng với người vay, giữa thương nhân chuyên nghiệp với người tiêu dùng…Theo lẽ tự nhiên, kẻ mạnh luôn sử dụng sức mạnh và nguy hiểm hơn là luôn có xu hướng làm dụng sức mạnh họ. Việc làm dụng đó chỉ có thể được hạn chế bằng pháp luật nhằm tạo sự bình đẳng tương đối giữa các chủ thể. Vì lý do trên nên tôi cho rằng, trong Bộ luật Dân sự cần phải có những quy định cho phép giám sát các điều khoản không công bằng.  Trong bộ Luật Dân sự 2005 có nhiều quy định nên là quy phạm tùy nghi, tuy nhiên chúng lại được thiết kế dưới dạng quy phạm mệnh lệnh, ví dụ, thời điểm quyền sở hữu đối với tài sản là động sản có đăng ký quyền sở hữu được chuyển từ người bán sang người được quy định tại Điều 439 BLDS 2005.
4. Một trong những yêu cầu quan trọng của pháp luật hợp đồng là phải phù hợp với thực tiễn. Quy luật tồn tại khách quan và pháp luật nói chung, pháp luật hợp đồng nói riêng phải phản ánh được quy luật đó. Thực tiễn chính là nếp nghĩ, thói quen hàng ngày của người dân bình thường và pháp luật phù hợp với suy nghĩ, thể hiện được thói quen đó. Khi pháp luật phù hợp với thực tiễn thì việc hiểu chúng, giải thích chúng trở nên dễ dàng hơn và vì vậy chúng đi vào cuộc sống cũng tự nhiên hơn. Thật vậy, cuộc sống tự nó hiện hữu và phát triển bởi chính nhu cầu trao đổi vật chất giữa các chủ thể thông qua công cụ pháp lý là hợp đồng. Vì hợp đồng là công cụ pháp lý mà bất kỳ người nào cũng có thể sử dụng được nên các quy định của pháp luật hợp đồng cần phải được xây dựng như thế nào đó để không những các luật gia mà đa số người dân, cho dù không học luật cũng có thể hiểu được. Muốn vậy chúng phải đơn giản và gần gũi với suy nghĩ, thói quen hàng ngày của người dân. Quy định của phải luật hợp đồng không những phải hiểu được mà còn cần phải giải thích được, có nghĩa là khi ai đó đặt câu hỏi, tại sao pháp luật quy định như vậy thì không những người làm luật, người áp dụng pháp luật phải giải thích được cho họ.
Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành và trong nhiều văn bản pháp luật khác có nhiều quy định không đáp ứng được yêu cầu nói trên. Ví dụ Điều 523 quy định, tất cả những vật không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản. Rõ ràng quy định này là trái thực tiễn. Ở Việt Nam, từ ngàn đời nay người dân vẫn thướng nói mượn gạo, mượn thóc, mượn tiền, chẳng nhẽ pháp luật cho rằng, họ sai? Hoặc, khi ông A mua xe hơi, khi đưa ra khỏi cửa hàng, tất cả mọi người dân bình thường đều cho rằng, chiếc xe đó là của ông A, có nghĩa là thuộc sở hữu của ông A. Đó là cách nghĩ thông thường của người dân bình thường.  Duy chỉ có các nhà làm luật, các luật gia nói rằng, chiếc xe đó vẫn chưa thuộc quyền sở hữu của ông A, bởi lẽ theo quy định tại khoản 2 Điều 439 BLDS 2005, Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.
5. Cần phải thừa nhận các học thuyết pháp lý là nguồn của pháp luật hợp đồng. Đời sống dân sự luôn phóng phú và đa dạng và pháp luật dân sự không thể bao quát hết toàn bộ. Đối với hợp đồng cũng tương tự. Không một ai có thể biết được có bao nhiêu loại hợp đồng đang và sẽ được sử dụng bởi lẽ hợp đồng là sự thỏa thuận. Bất kỳ thỏa thuận nào làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ dân sự đều được coi là hợp đồng. Như vậy sẽ có nhiều trường hợp pháp luật chưa có sự điều chỉnh một hay một số nội dung nào đó. Điều này là đương nhiên bởi lẽ pháp luật thường đi sau cuộc sống.
 Ở các quốc gia văn minh, khiếm khuyết, thiếu sót của pháp luật sẽ được bổ sung bằng các nguyên tắc chung của luật và các học thuyết pháp lý. Trong khi đó ở Việt Nam, khi rơi vào những tình thế đó các tóa án cấp dưới sẽ buộc phải chờ hướng dân của tòa án cấp trên. Điều này sẽ làm cho hoạt động xét xử trở nên kém linh hoạt và hạn chế tính độc lập của thẩm phán. Chúng ta đang từng bước trong việc thừa nhận án lệ, và chúng tôi cho rằng, việc thừa nhận án lệ không thể tách rời khỏi việc coi học thuyết pháp lý là nguồn của luật. Học thuyết pháp lý là nguyên liệu đầu vào và án lệ là sản phẩm đầu ra của hoạt động áp dụng pháp luật. Chúng tôi cho rằng, khí xây dựng Bộ luật Dân sự sửa đổi, liên quan đến phần hợp đồng nên có một tuyên bố rõ ràng rằng, học thuyết pháp lý cần được coi là nguồn nguồn của luật. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học pháp lý.  Hơn nữa việc coi học thuyết pháp lý là nguồn của luật sẽ góp phần nâng cao năng lực tranh tụng của các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa và đương nhiên năng lực của thẩm phán cũng vì vậy mà được cải thiện.
6. Phù hợp với thông lệ quốc tế và tương thích với pháp luật quốc tế cũng là yêu cầu quan trọng đối với pháp luật hợp đồng của VIệt Nam. Có thể nhận thấy rằng, các lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thường bị giới hạn bởi phạm vi không gian áp dụng. Trong khi đó pháp luật hợp đồng hoàn toàn không bị giới hạn bởi phạm vi không gian áp dụng. Theo các quy tắc của tư pháp quốc tế, pháp luật Việt Nam hoàn toàn có thể được áp dụng ở nước ngoài trong trường hợp các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế. Trong các hợp đồng thương mại quốc tế giữa một bên là doanh nghiệp Việt Nam và bên kia là công ty nước ngoài thì sự khác nhau về tư duy pháp lý càng lớn thì việc đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng càng trở nên khó khăn và thường bị kéo dài.  Điều này không những làm giảm tính hiệu quả mà trong nhiều trường hợp có thể làm mất cơ hội kinh doanh của các chủ thể.
Khi so sánh pháp luật hợp đồng của Việt Nam với pháp luật hợp đồng của các nước văn minh (những quốc gia này là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam) nhận thầy rằng, còn có sự khác biệt khá lớn. Có nhiều hành vi theo pháp luật của những nước đó bị coi là vi phạm hợp đồng, còn theo pháp luật Việt Nam thì hành vi đó hoàn toàn không trái luật. Điều này có thể mang lại nhiều rủi roc ho các doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy những nội dung cơ bản như: vi phạm hợp đồng khi chưa tới hạn thực hiện nghĩa vụ, nội dung hiwpj đồng cần phải được thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh, các quy định về mức phạt hợp đồng …cần phải được tiếp nhận một cách hợp lý và nên được thể hiện trong Bộ luật Dân sự.
Kết luận: Từ những phân tích ở trên, tôi cho rằng,  để có một hệ thống pháp luật hợp đồng tương đối hoàn thiện, các quy định cụ thể của pháp luật về hợp đồng cần phải được thiết kế, xây dựng triệt để tuân thủ các yêu cầu nói trên- là những yêu cầu có tính định hướng, cơ sở. 

CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VÀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VÀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH
TS. Dương Anh Sơn-Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề: Thực tiễn ký kết hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy rằng, hợp đồng được ký kết chủ yếu theo thói quen mà không phải theo kỹ năng pháp lý. Cũng chính vì vậy mà những vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng-chào hàng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không mấy được quan tâm. Thực tiễn này ít nhiều tác động đến việc thiết kế các quy định liên quan trong pháp luật hợp đồng Việt Nam. Thưc vậy, trước thời điểm 1.1.2006 tồn tại đồng thời 3 văn bản pháp luật cùng điều chỉnh việc ký kết và thực hiện hợp đồng, đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật dân sự 1995 và Luật thương mại 1997, và điều đáng nói là có khá nhiều điểm không thống nhất trong ba văn bản này, tuy nhiên chúng ít được quan tâm nghiên cứu. Hiện nay các nhà làm luật của chúng ta đã có sự cố gắng trong việc thống nhất các quy định pháp luật về ký kết hợp đồng, cụ thể chúng được gom vào trong Bộ luật dân sự 2005. Điều này vừa đảm bảo được tính hệ thống, tính thống nhất của pháp luật, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế. Sự cố gắng của những người soạn thảo Bộ luật dân sự thật đáng được ghi nhận. Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu nhiều quy định của đạo luật quan trọng nói trên, tôi vẫn thấy còn nhiều vấn đề cần phải được làm sáng rõ hơn. Trong phạm vi của bài viết tôi này không có ý định phân tích tất cả các quy định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ muốn phân tích, lý giải một số quy định trong mối liên hệ với thực tiễn và so sánh với các quy định của pháp luật một số nước.
2. Trước hết tôi muốn nói đến cách sử dụng thuật ngữ. Điều 390 Bộ luật dân sự 2005 quy định, i) đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể; ii) trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh. Như vậy pháp luật Việt Nam hiện hành không sử dụng thuật ngữ “chào hàng” như pháp luật của hầu hết các nước, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tôi cho rằng, việc pháp luật Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “chào hàng” mà lại sử dụng thuật ngữ “đề nghị giao kết hợp đồng”sẽ gây rất nhiều khó khăn cho người áp dụng cũng như người ký kết hợp đồng vì rất khó có thể phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với quảng cáo và đặc biệt là với lời mời đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, bởi vì theo nguyên tắc, quảng cáo, lời mời chào hàng và bản thân chào hàng đều được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên trị pháp lý của chúng lại hoàn toàn khác nhau.
Khác với quảng cáo hay lời mời chào hàng, chào hàng có giá trị pháp lý ràng buộc. Một đề nghị giao kết hợp đồng, để được coi là chào hàng, phải thỏa mãn các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, đề nghị đó phải được xác định cụ thể. Điều này có nghĩa là xuất phát từ nội dung của nó bên được chào hàng có khả năng hiểu được ý chí của bên chào hàng. Thông thương một đề nghị được coi là xác định nếu có chứa các nội dung của hợp đồng tương lai. Bất kỳ sự không xác định nào liên quan đến nội dung của hợp đồng tương lai, quyền và nghĩa vụ cũng như đối tượng của hợp đồng đều có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau về nội dung của đề nghị gia kết hợp đồng và điều này có thể làm cho đề nghị giao kết hợp đồng mất đi chức năng, mục đích của một chào hàng. Quảng cáo hay lời mời chào hàng thường là không xác định, bởi lẽ chúng không không có các  nội dung của một hợp đồng tương lai.
Thứ hai, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện được sự ràng buộc của bên chào hàng với lời đề nghị của mình trong trường hợp chào được bên được chào hàng chấp nhận. Yêu cầu nói trên có nghĩa là chào hàng phải được lập như thế nào đó để cho phép bên được đề nghị biết được rằng, để ký hết hợp đồng chỉ cần họ thể hiện sự đồng ý của mình với chào hàng. Dấu hiệu này cùng với dấu hiệu thứ nhất cho phép phân biệt chào hàng với lời mời để đối tác đưa ra chào hàng.
Thứ ba, chào hàng phải được gửi cho một người hay một số người cụ thể, tức là phải địa chỉ gửi đến phải được xác định rõ ràng. Lời mời chào hàng mặc dù được gửi cho một hay một số người xác định, tuy nhiên nó không thể hiện được sự ràng buộc của bên đưa ra đề nghị. Quảng cáo thường không được gửi cho một người xác định nào mà nó chỉ có mục đích thông báo, giới thiệu cho tất cả những người quan tâm về một loại sản phẩm nào đó của người đưa ra quảng cáo.
Từ sự phân tích nói trên, tôi cho rằng, pháp luật Việt Nam nên sử dụng thuật ngữ “chào hàng” và khoản 1 Điều 390 Bộ luật dân sự cần phải được sửa đổi như sau: Đề nghị giao kết hợp đồng được gửi cho một hay một số người xác định được coi là chào hàng nếu đề nghị đó được xác định và thể hiện được ý định của người chào hàng chịu sự ràng buộc trong trường hợp đề nghị được chấp nhận. Chào hàng phải có các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
3. Vấn đề tiếp theo chúng tôi muốn nói đến là giá trị pháp lý của một đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chào hàng. Lý thuyết về ký kết hợp đồng chỉ ra rằng, có hai loại chào hàng: thứ nhất, chào hàng có quy định thời hạn trả lời và; thứ hai, chào hàng không quy định thời hạn trả lời. Khi xem xét khoản 1 Điều 390 Bộ luật dân sự 2005 có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam có quy định chào hàng không quy định thời hạn trả lời, tuy nhiên giá trị pháp lý của nó lại không được nói đến . Thực vậy, điểm a, khoản 1 Điều 392 Bộ luật dân sự quy định rằng, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị. Theo tôi thì điểm a khoản 1 Điều 392 chỉ quy định giá trị pháp lý của chào hàng có quy định thời hạn trả lời. Bởi vì quy định này có thể hiểu là trong khoảng thời gian từ thời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị đến khi kết thúc thời hạn trong đề nghị, bên đề nghị không được rút lại hay hủy đề nghị của mình. Mặt khác sẽ hết sức vô lý nếu quy định trên được áp dụng cho cả đề nghị giao kết hợp đồng không quy định thời hạn trả lời bởi vì không quy đinh khoảng thời gian hiệu lực của nó. Vậy thì đối với chào hàng không quy định thời hạn trả lời bên đề nghị có thể rút lại hoăc hủy lời đề nghị của mình khi nào? Hay nói cách khác là bên được đề nghị giao kết hợp đồng phải trả lời trong thời hạn nào thì trả lời đó mới được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nhiều nước, kể cả Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không những chỉ có sự điều chỉnh đối với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chào hàng có quy định thời hạn trả lời mà còn có sự điều chỉnh đối với chào hàng không quy định thời hạn trả lời. Công ước Viên 1980 (khoản 1 Điều 16) quy định, bên đề nghị có thể rút lại đề nghị nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc rút lại chào hàng trước khi trả lời chấp nhận. Điều 145 Bộ luật dân sự của Đức quy định, trong trường hợp chào hàng không quy định thời hạn trả lời thì bên chào hàng chịu sự ràng buộc trong thời hạn hợp lý  , tức là trong thời hạn hợp lý đó bên chào hàng không được thay đổi hay hủy lời đề nghị của mình. Điều này có nghĩa là nếu bên được đề nghị đưa ra sự chấp nhận trong thời hạn hợp lý đó thì hợp đồng sẽ được ký kết. Khoản 1 Điều 441 Bộ luật dân sự Liên bang Nga quy định rằng, khi chào hàng bằng văn bản không quy định thời hạn trả lời, hợp đồng được coi là đã ký kết nếu bên chào hàng nhận được sự trả lời chấp nhận của bên kia trước thời hạn do pháp luật quy định, nếu pháp luật không quy định thì trong thời hạn hợp lý cần thiết cho việc chấp nhận. Thời hạn hợp lý được quy định trong pháp luật của Đức, Liên bang nga trong từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khoảng cách giữa các bên, phương tiện thông tin, tính chất của hợp đồng tương lai…Theo nguyên tắc, thời hạn hợp lý này được xác định bởi khoảng thời gian giữa ngày bên được đề nghị nhận được chào hàng và ngày bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận.
Từ những gì được nói ở trên, tôi nghĩ rằng, trong Bộ luật dân sự Việt Nam nên chăng cũng cần phải có quy định cụ thể hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng không có quy định thời hạn trả lời.
4. Một trong những vấn đề liên quan đến việc ký kết hợp đồng cần phải được quan tâm đó là sự im lặng có được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay không. Theo quy định của Công ước Viên 1980 (Khoản 1 Điều 18), sự im lặng hay việc không hành động không được coi là chấp nhận chào hàng. Trong pháp luật của các nước khác nhau vấn đề này được giải quyết không giống nhau. Pháp luật Việt Nam, về mặt nguyên tắc cũng không coi im lặng là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Tuy nhiên khoản 2 Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định rằng, hợp đồng cũng được xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết. Liên quan đến quy định này, một câu hỏi có thể được đặt ra: trong trường hợp hợp đồng được ký kết bằng cách trao đổi chào hàng và chấp nhận chào hàng giữa các bên vắng mặt thì sự thỏa thuận nói trên được hiểu như thế nào? Khi việc đàm phán thương thảo ký kết hợp đồng được thực hiện giữa những người vắng mặt thì rõ ràng họ khó có thể thỏa thuận được. Hay là có thể nói rằng, trong chào hàng, bên đề nghị có quy định rằng, sự im lặng của bên được đề nghị được coi là sự đồng ý của họ. Tôi cho rằng, nếu hiểu như vậy lại càng không được. Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhưng trong trường hợp này hoàn toàn không có sự thỏa thuận mà là sự áp đặt ý chí của bên đề nghị. Nếu cho rằng, trong các cuộc gặp gỡ trước đó các bên đã có sự thỏa thuận với nhau rằng, im lặng được coi là chấp nhận chào hàng, cách lập luận này có vẻ thuyết phục hơn cả. Tuy nhiên tôi cho rằng, trường hợp này nên coi là thực tiễn thương mại giữa các bên có vẽ hợp lý hơn. Điều này  được ghi nhận trong pháp luật của một số nước. Ví dụ, Điều 438 Bộ luật dân sự Liên bang Nga quy định rằng, im lặng không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nếu điều này không xuất phát từ pháp luật, tập quán hay thực tiễn quan hệ giữa các bên. Pháp luật của Anh cũng có cách tiếp cận tương tự như Bộ luật dân sự Liên bang Nga . Tôi cho rằng quy định như vậy sẽ phù hợp hơn, bởi thực tiễn quan hệ giữa các bên, đặc biệt là quan hệ thương mại giữa các bên trong nhiều trường hợp cũng được sử dụng như là một cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Đây cũng là xu thế mà pháp luật quốc tế thừa nhận.
5. Theo nguyên tắc, một trong những điều kiện để sự trả lời của bên được đề nghị được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là bên đề nghị nhận được chấp đề nghị trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng. Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp mặc dù bên được đề nghị gửi chấp nhận sớm và theo điều kiện thương mại thông thường nó phải đến tay người đề nghị sớm, tức là trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên vì lý do khách quan chấp nhận đến trễ. Hiệu lực pháp luật của chấp nhận đến trễ này được quy định giống nhau trong Pháp luật Việt Nam, Công ước Viên 1980, pháp luật của một số nước  tức là vẫn có giá trị pháp lý như một chấp nhận chào hàng nếu bên đề nghị không phản đối ngay khi nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đó. Tôi cho rằng, quy định này của Bộ luật dân sự Việt Nam, của pháp luật các nước và cả Công ước Viên 1980 nghiêng về việc bảo vệ được quyền lợi của bên đề nghị và không bảo vệ được lợi ích của bên được đề nghị. Rõ ràng như vậy, ví dụ, khi người bán nhận được sự chấp nhận trễ của người mua, nếu còn hàng thì người bán sẽ coi chấp nhận đó có hiệu lực, nếu hàng đã bán rồi thì họ sẽ trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó. Trong trường hợp này rất có thể người mua sẽ phải chịu thiệt hại liên quan đến sự chuẩn bị cho việc thực hiện hợp đồng bởi họ tin rằng, hợp đồng đã được ký kết vì sự trả lời của họ đến đúng hạn. Như vậy thiệt hại này của người mua-người được đề sẽ được giải quyết như thế nào? Theo quy định của khoản 1 Điều 397 Bộ luật dân sự thì người mua phải gánh chịu thiệt hại đó. Điều này có vẻ không công bằng với người mua, bởi vì họ phải chịu sự thiệt hại hoàn toàn không do lỗi của họ. Theo quan điểm của tôi, để giải quyết trường hợp này nên chăng chúng ta có cách tiếp cận khác, tức là phải làm thế nào đó để bên được đề không bị thiệt hại. Ví dụ, pháp luật có thể quy định rằng, khi hết thời hạn được quy định trong đề nghị giao kết hợp đồng mà bên đề nghị không nhận được sự trả lời thì phải thông báo ngay cho bên kia biết về điều đó. Có thể coi đây là sự thể hiện một cách rõ ràng nhất của nguyên tắc thiện chí khi ký kết hợp đồng, mặt khác, so với bên được đề nghị thì người đề nghị chính là người quan tâm hơn đến việc thành công của giao dịch.
6. Điều 398 Bộ luật dân sự quy định, trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được mời giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị. Điều này có nghĩa là hợp đồng đã được ký kết. Cũng tương tự, Điều 399 quy định, trong trường hợp bên được mời giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị. Và điều này cũng có nghĩa là hợp đồng đã được ký kết. Đây là hai quy định rất mới của Bộ luật dân sự 2005, chúng không có trong Bộ luật dân sự 1995, cũng như trong Luật thương mại 1997, và trong pháp luật của nhiều nước các quy định nói trên không được tìm thấy.
Trước hết tôi muốn bình luận Điều 398. Đề nghị giao kết hợp đồng có giá trị pháp lý có nghĩa là nếu nó được chấp nhận thì hợp đồng được ký kết. Tôi cho rằng quy định của Điều 398 cũng có thể hiểu là đối với đề nghị giao kết hợp đồng có quy định thời hạn trả lời thì nó vẫn có giá trị pháp lý ngay cả khi bên đề nghị chết hay mất năng lực hành vi dân sự trong trong thời hạn đó. Để xem xét tính phù hợp của quy định này chúng ta có thể xem xét một ví dụ sau đây: Ông A là kiến trúc sư danh tiếng. Ông ta gửi cho công ty B một đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó ông A sẽ thiết kế cho công ty B một công trình kiến trúc tầm cỡ. Nhận được lời đề nghị của ông A, công ty B xem xét và chấp nhận lời đề nghị đó. Sau khi nhận được sự trả lời chấp nhận của công ty B, ông A chết. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 398 Bộ luật dân sự thì lời đề nghị của ông A vẫn có giá trị ràng buộc, điều này cũng có nghĩa là hợp đồng giữa ông A với công ty B đã được ký kết và có hiệu lực và nếu ông A chết thì người thừa kế- người thế nghĩa vụ - của ông A phải thực hiện hợp đồng nói trên. Tuy nhiên trong trường hợp cụ thể nói trên chỉ ông A là người mới có thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng chứ không phải là một người nào khác bởi vì người thừa kế của ông A không phải là kiến trúc sư, mà cho dù là kiến trúc sư đi nữa thì cũng không thể thực hiện được nghĩa vụ thiết kế theo hợp đồng. Mặt khác điều này lại mâu thuẫn với khoản 3 Điều 424 Bộ luật dân sự, theo đó, hợp đồng chấm dứt trong trường hợp cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc các chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể đó thực hiện. Như vậy, bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được mời giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị theo quy định tại Điều 398 và ngay lập tức bị chấm dứt hiệu lực theo quy định của khoản 3 Điều 424 Bộ luật dân sự. Hậu quả pháp lý của Điều 399 cũng tương tự trong trường hợp công ty B là bên đề nghị và ông A-kiến trúc sư là bên được đề nghị.
Cũng có thể các nhà làm luật cho rằng, trong trường hợp khi bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được mời giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng sau này phải do chính người đó hoặc trong trường hợp bên được mời giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng sau này phải do chính người đó thì không áp dụng quy định của hai Điều 398 và 399 mà áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 424. Còn quy định tại hai Điều 398 và 399 chỉ được áp dụng cho  những trường hợp khác ngoài trường hợp nói trên, tức là khi hợp đồng không do chính người đề nghị hay người được đề nghị thực hiện. Cách lập luận này (nếu có) tôi thấy cũng không thuyết phục. Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà hợp đồng có thể do người thừa kế- người thế nghĩa vụ thực hiện thì ngay cả khi không có quy định của Điều 398 và Điều 399 thì người thừa kế - người thế nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của họ. Bộ luật dân sự không có quy định trực tiếp vấn đề này mà nó được quy định trong một số văn bản văn bản pháp luật khác. Ví dụ, pháp nhân – doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại của mình bằng việc sáp nhập, hợp nhất hay chia, tách. Trong trường hợp pháp nhân sáp nhập vào một pháp nhân khác thì nghĩa vụ của pháp nhân được sáp nhập sẽ được pháp nhân sáp nhập thực hiện.
Từ những lập luận nói trên, tôi cho rằng, quy định tại các Điều 398 và 399 Bộ luật dân sự 2005 thực sự là không cần thiết, không cần thiết vì không những nó thừa mà còn mâu thuẫn với một quy định khác của Bộ luật dân sự-khoản 3 Điều 424 và sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc áp dụng, vì vậy có lẽ tốt nhất là nên loại chúng ra khỏi Bộ luật dân sự 2005.
Trên đây là một số ý kiến của tôi về một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 liên quan đến việc ký kết hợp đồng. Tôi cho rằng, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, quan hệ thương mại với đối tác nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng lên, vì vậy một trong những nhiệm vụ của chúng ta là phải làm thế nào để pháp luật hợp đồng nói chung, các quy định về ký kết hợp đồng nói riêng phải có sự tương thích với pháp luật quốc tế. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc ký hết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại quốc tế.

BẢN CHẤT CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

BẢN CHẤT CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh

1. Dẫn nhập: Hợp đồng tặng cho là một trong những công cụ pháp lý được hình thành lâu đời nhất trong pháp luật dân sự. Ngay từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ I trước Công nguyên trong Luật La Mã hợp đồng tặng cho được coi là một trong những cơ sở làm phát sinh quyền sở hữu và được quy định một cách cụ thể, chi tiết. Trong Bộ Luật Dân sự Bắc kỳ và Bộ luật Dân sự Trung kỳ hợp đồng tặng cho cũng dành được sự quan tâm đáng kể . Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, hợp đồng tặng cho được coi là một trong những hợp đồng dân sự thông dụng và được  quy định trong phạm vi 6 Điều luật (từ các Điều 465-470). Như vậy có thể nhận thấy Bộ luật Dân sự 2005 chỉ dành một số lượng khiêm tốn các điều luật cho loại hợp đồng này, có lẽ chính vì vậy nên trong thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp mà pháp luật không thể giải quyết được, ví dụ, bản chất của hợp đồng tặng cho, những giới hạn của hợp đồng và vấn đề huỷ bỏ hợp đồng sau khi hợp đồng đã có hiệu lực. Trong phạm vi bài viết tác giả cố gắng phân tích, so sánh để làm sáng rõ những vấn đề được đặt ra.
2. Việc xác định hợp đồng tặng cho là loại hợp đồng thực tế hay hợp đồng ưng thuận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, bởi lẽ điều này liên quan đến lợi ích của các bên trong hợp đồng. Theo quy định tại Điều 465 BLDS 2005, hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù còn bên tặng cho đồng ý nhận . Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản. Đối với tặng cho động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký (Điều 466 BLDS 2005). Đối với tặng cho bất động sản thì Điều 467 BLDS 2005 quy định: i) Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu; ii) Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Theo các quy định trên của pháp luật Việt Nam thì về bản chất, mặc dù pháp luật không quy định rõ, nhưng trong khoa học pháp lý Việt Nam nhiều tác giả cho rằng, tặng cho tài sản làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng cho nhận tài sản, cũng chính vì vậy nên hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế, sau khi các bên đã thoả thuận về việc tặng cho mà chưa chuyển giao tài sản, không làm phát sinh quyền của các bên , do vậy mọi thoả thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản . Sự đồng ý của bên được tặng cho quyết định cho hợp đồng được xác lập, song hợp đồng chỉ có hiệu lực khi tài sản được tặng cho được trao cho bên được tặng cho (hợp đồng thực tế). Như vậy, đây là hợp đồng thực tế, đơn vụ và không có đền bù .
Có thể khẳng định rằng, hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có sự đền bù, tuy nhiên nói rằng, hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì còn cần phải xem xét. Lý thuyết về hợp đồng chỉ ra rằng, hợp đồng thực tế là hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm các bên thực hiện nghĩa vụ của mình trên thực tế, loại hợp đồng này khác với hợp đồng ưng thuận, theo đó hợp đồng có hiệu lực ngay sau khi các bên đạt được sự thoả thuận nếu không có thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Như vậy hợp đồng tặng cho, theo ý kiến của các tác giả nói trên chỉ phát sinh hiệu lực khi bên được tặng cho thực tế nhận tài sản. Tuy nhiên Điều 466 Bộ luật Dân sự 2005 không nói rõ “nhận tài sản” là nhận tài sản về mặt pháp lý hay thực tế nhận tài sản, mặt khác, Điều 465 BLDS quy định, Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù còn bên tặng cho đồng ý nhận. Theo cách hiểu của tôi thì “đồng ý nhận” được nói đến trong Điều 465 BLDS có thể là đồng ý nhận tài sản ngay tức thì và cũng có thể là đồng ý nhận tài sản vào thời điểm nào đó trong tương lai.
Như vậy, một vấn đề cần phải được lý giải, căn cứ vào đâu mà một số tác giả lại có thể hiểu rằng, “nhận tài sản” được nói đến trong Điều 466 là nhận tài sản thực tế.
Chúng tôi cho rằng, nếu cho rằng hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế thì sẽ có rất nhiều vấn đề có thể xảy ra và pháp luật khó có thể giải quyết được. Ví dụ, hợp đồng tặng cho tài sản được lập thành văn bản và đã được ký kết, theo đó bên tặng cho sẽ giao tài sản cho bên được tặng cho vào một thời điểm xác định trong tương lai. Vậy thì một vấn đề được đặt ra: khi tài sản chưa được chuyển giao thì người được tặng cho có quyền từ chối nhận tài sản hoặc người tặng cho có thể từ chối việc giao tài sản hay không? Nếu cho rằng hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì trước khi nhận tài sản người được tặng cho có quyền từ chối nhận tài sản và người tặng cho có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Vậy thì sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp việc từ chối thực hiện hợp đồng của một trong các bên gây thiệt hại cho bên kia? Ví dụ, ngày 1/4 ông A tặng cho ông B xe du lịch 4 chỗ, hợp đồng được lập thành văn bản, có chứng thực. Ngay lúc đó ông B chưa nhận xe vì chưa có gara và nói với ông A rằng, sau hai tuần, tức là ngày 15/4 sau khi gara được làm xong ông B sẽ đến nhận xe và sẽ làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Sau khi ký hợp đồng, ông B cải tạo nhà của mình và xây gara để xe, chi phí xây gara mất 50 triệu. Gara được làm xong và chưa kịp nhận xe thì ông B được ông A thông báo là ông A không cho ông B chiếc xe đó nữa. Như vậy nếu nói rằng hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì ông A không có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho ông B bởi vì hợp đồng tặng cho chưa có hiệu lực pháp luật. Điều này thật vô lý, bởi lẽ nếu không có hợp đồng tặng cho được ký kết trước đó thì ông B đã không bỏ ra 50 triệu để làm gara.
Chúng tôi cho rằng, vì pháp luật không quy định rõ tài sản trong hợp đồng tặng cho được bên được tặng cho thực tế nhận hay chỉ nhận về mặt pháp lý nên cần phải có sự giải thích rõ ràng. Để giải thích điều này, chúng tôi cho rằng cần phải xem xét “nhận tài sản” trong các loại hợp đồng khác, cụ thể là hợp đồng mua bán tài sản được giải thích như thế nào.
Khoản 1 Điều 439 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, nếu không có thoả thuận khác thì quyền sở hữu đối với tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản được chuyển từ người bán sang người mua tại thời điểm tài sản được chuyển giao. Khoản 1 Điều 440 quy định, nếu không có thoả thuận khác thì người bản không còn chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm giao tài sản, người mua chịu rủi ro kể từ thời điểm nhận tài sản. Trong các quy định nói trên, thời điểm giao và nhận tài sản được xác định về mặt pháp lý, tức là thời điểm giao tài sản do các bên thoả thuận trong hợp đồng, không phụ thuộc vào thời điểm thực tế giao nhận tài sản. Ví dụ, các bên thoả thuận thời điểm giao tài sản là ngày 1/4 nhưng tài sản được người mua thực tế nhận vào ngày 5/4 thì thời điểm mà quyền sở hữu và rủi ro đối với tài sản được chuyển từ người bán sang người mua là ngày1/4, bởi vì sau thời điểm này tài sản đã được đặt dưới sự định đoạt của người mua.
Như vậy nếu trong hợp đồng tặng cho được hiểu là nhận thực tế thì rõ ràng không có cách hiểu thống nhất về “nhận tài sản” trong các hợp đồng khác nhau. Chúng tôi cho rằng, sở dĩ có cách hiểu khác nhau nói trên là vì trong pháp luật Việt Nam không có quy định, như thế nào là tài sản được chuyển giao.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật của các nước có quy định rõ thế nào là tài sản được chuyển giao. Ví dụ, Khoản 2 Điều 458 BLDS Liên bang Nga quy định, nếu không có thoả thuận khác, nghĩa vụ giao hàng của người bán được coi là hoàn thành vào thời điểm tài sản được đặt dưới sự định đoạt của người mua, nếu tài sản cần phải được giao cho người mua hay người do người mua chỉ định tại địa điểm có tài sản. Tài sản được coi đã được đặt dưới sự định đoạt của người mua nếu tài sản được giao đúng thời điểm và địa điểm do các bên thoả thuận trong hợp đồng và người mua đã được thông báo về việc hàng hoá săn sàng được chuyển giao…”. Vì được quy đinh rõ ràng như vậy nên “nhận tài sản” hay “chuyển giao tài sản” trong hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản được giải thích giống nhau.  Đây là một trong những lý do để nhiều tác giả cho rằng, hợp đồng tặng cho tài sản có thể là hợp đồng thực tế và cũng có thể là hợp đồng ưng thuận.
Nghiên cứu cho thấy rằng, theo quy định của pháp luật nhiều nước, hợp đồng tặng cho trong một số trường hợp là hợp đồng thực tế, và trong nhiều trường hợp khác là hợp đồng ưng thuận. Việc xem xét hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế hay hợp đồng ưng thuận phụ thuộc vào:
Thứ nhất, tài sản là đối tượng của hợp đồng tặng cho được giao ngay tại thời điểm ký hợp đồng hay được giao  trong tương lai. Trong trường hợp tặng cho tài sản là hợp đồng ưng thuận thì thời điểm giao tài sản và thời điểm ký hợp đồng không trùng nhau, thông thường trong trường hợp này tài sản sẽ được chuyển giao tại thời điểm xác định trong tương lai sau khi hợp đồng tặng cho được ký kết. Còn nếu hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm giao tài sản trùng nhau. Tặng cho là hợp đồng thực tế không làm phát sinh bất kỳ một quan hệ nghĩa vụ nào giữa các bên, chỉ có một ngoại lệ duy nhất cho hợp đồng này là tặng cho quyền tài sản .
Thứ hai, Hình thức của hợp đồng. Thông thường nếu được ký kết bằng lời nói thì hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế. Trong trường hợp này hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực khi người được tặng cho thực tế nhận được tài sản. Nếu tặng cho được lập thành văn bản thì hợp đồng thường là hợp đồng ưng thuận. Theo quy định của pháp luật Viêt Nam và pháp luật của một số nước , hợp đồng tặng cho có thể được ký kết bằng lời và cũng có thể được ký kết bằng văn bản. BLDS Việt Nam, ngoài quy định tại Điều 467, không quy định những trường hợp hợp đồng tặng cho phải được ký kết bằng văn bản. Khác với pháp luật Việt Nam, theo quy định tại Điểm 2 Khoản 2 Điều 574 BLDS Liên bang Nga, hợp đồng tặng cho có quy định giao tài sản tại một thời điểm trong tương lai, phải được ký kết bằng văn bản, nếu không tuân thủ hình thức văn bản thì hợp đồng vô hiệu. Các quy định của BLDS Liên bang Nga thể sau đó thể hiện rõ, trong những trường hợp này hợp đồng tặng cho là hợp đồng ưng thuận. Điều 573 quy định, bên được tặng cho có quyền từ chối nhận tài sản trong mọi thời điểm trước thời điểm nhận tài sản, trong trường hợp này hợp đồng được coi bị huỷ. Nếu hợp đồng tặng cho được ký kết bằng văn bản, bên tặng cho có quyền yêu cầu bên được tặng cho bồi thường thiệt hại thực tế do từ chối nhận tài sản. Như vậy hợp đồng tặng cho được ký kết bằng văn bản có hiệu lực trước thời điểm tài sản được chuyển giao (trước thời điểm người được tặng cho nhận tài sản). Tính chất ưng thuận của hợp đồng tặng cho bằng văn bản còn được thể hiện thông qua việc pháp luật quy định những trường hợp bên tặng cho có thể từ chối thực hiện tặng cho theo hợp đồng. Theo quy định tại Điều 577, bên tặng cho có quyền từ chối thực hiện hợp đồng, theo đó bên tặng cho sẽ giao tài sản cho bên được tặng cho trong tương lai, nếu sau thời điểm hợp đồng được ký kết tình trạng tài sản, tình trạng gia đình hay tình trạng sức khoẻ của bên tặng cho thay đổi đến mức nếu thực hiện hợp đổng sẽ làm cho cuộc sống của bên tặng cho trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Trong trường hợp nói trên bên được tặng cho không có quyền yêu cầu bên tặng cho bồi thường thiệt hại. Ngoài những trường hợp nói trên bên tặng cho không có quyền từ chối thực hiện hợp đồng tặng cho.
Pháp luật của một số nước khác thì bắt buộc hợp đồng tặng cho phải được ký kết bằng văn bản. Điều 931 BLDS Pháp quy định, mọi chứng thư tặng cho lúc còn sống phải được lập trước mặt công chứng viên, theo hình thức thông thường của các hợp đồng và phải lưu bản chính, nếu không sẽ vô hiệu. Việc tặng cho lúc còn sống chỉ ràng buộc người tặng cho và chỉ phát sinh hệ quả kể từ ngày người được tặng cho đã chấp thuận một cách rõ ràng (Điiều 932 BLDS Pháp). Việc tặng cho được coi là hoàn tất ngay khi hai bên thoả thuận cho và nhận; quyền sở hữu đối với vật tặng cho được chuyển cho người được tặng cho, không cần một thủ tục chuyển giao nào khác (Điều 938 BLDS Pháp). Như vậy có thể nhận thấy rằng, theo pháp luật của Pháp, hợp đồng tặng cho là hợp đồng ưng thuận, tức là hợp đồng đã có hiệu lực ngay tại thời điểm các bên thoả thuận, điều này được quyết định bởi hình thức văn bản bắt buộc của loại hợp đồng này.
Việc coi hợp đồng tặng cho là loại hợp đồng thực tế hay ưng thuận có ý nghĩa quan trọng trong những trường hợp khi có sự thay đổi liên quan đến chủ thể của hợp đồng. Việc hợp đồng tặng cho không được quy định rõ ràng trong BLDS 2005 cộng với quan niệm hợp đồng này là hợp đồng thực tế đã không thể giải quyết được nhiều trường hợp có thể xảy ra trong thực tế. Ví dụ sau khi hợp đồng tặng cho được ký kết và bên tặng cho chết khi tài sản chưa được giao cho bên được tặng cho. Nếu quan niệm rằng, hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế thì người thừa kế của bên tặng cho không có nghĩa vụ phải giao tài sản cho bên được tặng cho. Tuy nhiên điều này có vẻ như sẽ mâu thuẫn với các quy định của pháp luật về thừa kế. Trong trường hợp nguời tặng cho chết trước người được tặng cho thì hợp đồng tặng cho có thể trở thành di tặng, tài sản tặng cho có thể trở thành vật di tặng . Về những trường hợp nói trên, khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật của các nước có sự điều chỉnh rõ ràng hơn. Ví dụ, Khoản 1 Điều 581 BLDS Liên bang Nga quy định, quyền của bên được tặng cho theo hợp đồng tặng cho mà tài sản sẽ được chuyển giao trong tương lai không được chuyển cho người thừa kế nếu không có sự thoả thuận khác trong hợp đồng.
Vấn đề đơn giản hơn khi người được tặng cho chết sau khi hợp đồng tặng cho đã được ký kết nhưng chưa nhận tài sản.Theo pháp luật của Việt Nam thì bên tặng cho không có nghĩa vụ giao tài sản cho người thừa kế của người được tặng cho vì theo Điều 466 BLDS hợp đồng tặng cho chưa chó hiệu lực. Theo pháp luật của các nước, ví dụ, Khoản 2 Điều 581 BLDS Liên bang Nga, trong trường hợp này quyền của người được tặng cho không được chuyển cho người thừa kế của họ nếu hợp đồng  không có sự thoả thuận khác.
3. Trong các hợp đồng có bồi hoàn việc ký kết hợp đồng là nhằm đạt mục đích nhất định mà các bên hướng đến. Nếu sự vi phạm của một bên làm cho bên kia không đạt được mục đích mà họ đặt ra trước khi ký kết hợp đồng (vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng) thì họ có quyền yêu cầu huỷ hợp đồng. Hợp đồng tặng cho có đặc điểm là các bên không có mục đích, chỉ có động cơ của người tặng cho. Vậy thì một vấn đề cần phải được làm sáng rõ, hợp đồng tặng cho có thể bị huỷ hay không. Như đã phân tích ở trên, vì là hợp đồng không có sự đền  bù, chỉ có bên tặng cho có nghĩa vụ nên vấn đề huỷ hợp đồng, nếu có thể, chỉ được đặt ra đối với bên tặng cho, bởi lẽ bên được tặng cho có quyền từ chối tài sản trong mọi thời điểm trước khi nhận tài sản.
Thông thường một người nào đó khi tặng cho người khác tài sản không phải không vì động cơ nào đó. Động cơ tặng cho có thể không giống nhau: mong muốn thể hiện vị trí của mình đối với người được tặng cho; giúp đỡ người được tặng cho; làm vui lòng người được tặng cho; tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ trước đó; để được người được tặng cho tặng cho lại tài sản giá trị hơn hay sẽ có được sự giúp đỡ của người đó sau này…Điều 952 BLDS Trung kỳ quy định, tặng-dữ là để làm phúc, hoặc để đền công, hoặc để thưởng tứ, hoặc để bắt gánh một trách nhiệm gì. Như vậy tính chất không bồi hoàn của hợp đồng tặng cho không có nghĩa là tặng cho không có nguyên nhân. Trong một số trường hợp động cơ nằm trong hợp đồng (ý muốn nói tặng cho có điều kiện), tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác động cơ nằm ngoài phạm vi của hợp đồng. Dù được biểu hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, bằng cách này hay cách khác, động cơ luôn thể hiện lòng tốt của người tặng cho. Theo quan điểm của chúng tôi, mặc dù pháp luật không quy định, mặc dù có thể không nằm trong hợp đồng, tuy nhiên động cơ tặng cho được coi là một trong những vấn đề quan trọng và liên quan đến hợp đồng.
Thực tiễn có những trường hợp, sau khi hợp đồng tặng cho có hiệu lực, bên được tặng cho đã nhận tài sản nhưng họ đã có những hành vi trái với mong muốn, tức là ngược với động cơ của người tặng cho. Ví dụ, người được tặng cho có những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người được tặng cho và những người thân thích của người này, hoặc người được tặng cho sử dụng tài sản tặng cho trái với mong muốn của người tặng cho, hoặc trong một số trường hợp sau khi hợp đồng tặng cho được thực hiện thì hoàn cảnh, tình trạng gia đình, vật chất của người tặng cho có sự thay đổi cơ bản và người tặng cho lại có nhu cầu lớn về tài sản để có thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu của mình hoặc việc tặng cho có thể xâm hại đến quyền lợi của người khác, của xã hội…Trong những trường hợp nói trên pháp luật của Việt Nam khó có thể giải quyết được bởi không có sự điều chỉnh rõ ràng. Chỉ trong một số trường hợp pháp luật có quy định về vấn đề này, ví dụ Điểm A, Khoản 1, Điều 43Luật Phá sản 2004 quy định, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ặng cho động sản và bất động sản cho người khác trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật của các nước  có sự điều chỉnh có thể nói khá cụ thể những trường hợp nói trên. Điều 578 BLDS Liên Bang Nga quy định, i) bên tặng cho có quyền huỷ hợp đồng nếu bên được tặng cho thực hiện hành vi đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của bản thân người tặng cho, thành viên gia đình và người thân của người tặng cho; ii) bên tặng cho có quyền yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng tặng cho tài sản nếu bên được tặng cho tạo ra nguy cơ làm hỏng tài sản nếu tài sản tặng cho có giá trị lớn đối với bên tặng cho. Cũng tương tự Điều 955 BLDS Pháp quy định việc tặng cho lúc còn sống chỉ có thể bị huỷ bỏ vì vô ơn trong những trường hợp sau đây: i) Người được tặng cho đã xâm phạm đến tính mạng của người tặng cho; ii) người được tặng cho ngược đãi, phạm tội hoặc chửi rũa nghiêm trọng người tặng cho; iii) người được tặng cho không cấp dưỡng người tặng cho . Chúng tôi cho rằng, cách quy định như trong pháp luật của các nước là hợp lý. Người tặng cho khi thực hiện việc tặng cho đã mong muốn và tin rằng (động cơ của người tặng cho), bên được tặng cho là người tốt, việc có thêm tài sản được tặng cho sẽ làm cho người này tốt hơn lên. Nếu bên được tặng cho thực hiện hành vi đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của bản thân người tặng cho, thành viên gia đình và người thân của người tặng cho không những thể hiện sự vô ơn mà còn bị xã hội lên án. Vì vậy dưới góc độ đạo đức người được tặng cho trong trường hợp này không xứng đáng được hưởng tài sản tặng cho, tức là sự ưu ái và lòng tốt của người khác.
Bộ luật Dân sự của Pháp còn quy định thêm một số trường hợp hợp đồng tặng cho có thể bị huỷ. Điều 961 BLDS của Pháp, quy định hợp đồng tặng cho có thể bị huỷ bỏ trong trường hợp con của người tặng cho thành thai vào lúc tặng cho. Điều 960 quy định mọi việc tặng cho của người không có con hoặc không có ti thuộc còn sống khi tặng cho, dù giá trị vật tặng cho là bao nhiêu, dù làm bằng chứng thư gì, dù để tương trợ lẫn nhau hay để trả công, kể cả những việc tặng cho trong dịp kết hôn mà người tặng cho không phải là các tôn thuộc tặng cho vợ chồng hoặc vợ chồng tặng cho nhau, đều đương nhiên bị huỷ bỏ bởi việc người tặng cho sinh con chính thức, dù đứa trẻ chết sau khi sinh ra hoặc đứa trẻ từ khi tặng cho là con ngoài giá thú được công nhận là con chính thức do hôn nhân sau đó. Trong thực tiễn không ít trường hợp, người tặng cho, ngoài động cơ tặng cho, còn có những lý do khác khi tặng cho người khác tài sản thuộc sở hữu của mình. Một trong những lý do đó là vì không còn người thừa kế nên người tặng cho muốn tặng cho người khác phần lớn tài sản của mình, tuy nhiên sau khi việc tặng cho đã hoàn thành thì hoàn cảnh thay đổi và trong trường hợp được xem xét là người tặng cho lại có nhu cầu về tài sản và cần tài sản để nuôi dưỡng con của họ. Nếu pháp luật không có cơ chế điều chỉnh cho phép yêu cầu huỷ hợp đồng thì người tặng cho có thể gặp khó khăn trong cuộc sống sau này. Chính vì lẽ đó nên theo tôi các quy định tại các Điều 960, 961 BLDS Pháp là rất hợp lý.
4. Kết luận: Tặng cho tài sản là một trong những hợp đồng được sử dụng phổ biến trong lưu thông dân sự. Để cho việc ký kết và thực hiện loại hợp đồng này trong thực tiễn trở nên thuận lợi hơn, đảm bảo quyền lợi cho các bên trong hợp đồng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà trong quá trình xét xử Toà án thường có thói quen quy chiếu vào điều luật và ít khi có sự giải thích dựa trên tinh thần của pháp luật thì thiết nghĩ các nhà làm luật của Việt Nam cũng nên xem xét, tham khảo pháp luật của các nước, đối chiếu với thực tiễn khi xây dựng các quy định pháp luật cho loại hợp đồng này.