Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO BLDS 2015 * PGS. TS Dương Anh Sơn

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO BLDS 2015

             * PGS. TS  Dương Anh Sơn
Đặt vấn đề:
Trong giao kết hợp đồng, ý chí của các bên được thể hiện qua các giai đoạn khác nhau: từ ý chí riêng của mỗi bên đến ý chí chung của các bên. Quá trình chuyển từ ý chí riêng sang ý chí chung có thể bị tác động của những yếu tố nào đó; vì vậy, ý chí chung không thể hiện ý chí của một hoặc các chủ thể. Những tình huống này được coi là nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng. Từ BLDS 1995, BLDS 2005 đến BLDS 2015 đều có quy định hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn. Có thể nhận thấy rằng, quy định của BLDS năm 2015 được xây dựng hoàn toàn khác với quy định của các BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 là bỏ yếu tố “khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự” mà thay vào đó “có sự nhầm lẫm làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích...”.  Sự thay đổi này là hết sức cần thiết bởi lẽ quy định của BLDS năm 2005 có thể nói là quá sơ sài và đơn giản, trong khi đó nhầm lẫn là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu là một trong những nội dung phức tạp của pháp luật hợp đồng nói chung và của Việt Nam nói riêng. Vì phức tạp nên vấn đề này dành được sự chú ý trong khoa học pháp lý Việt Nam trước đây . Tuy nhiên, khi nghiên cứu quy định của BLDS năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn và hậu quả pháp lý, chúng tôi thấy còn có một số điểm chưa thực sự hợp lý. Bài viết này sẽ góp phần làm rõ những điểm bất hợp lý đó.
1. Nhầm lẫn là điều kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu
1.1 Liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn có thể so sánh, BLDS năm 2005 quy định: i) Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫm về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; và ii) Trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này (Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa) . Còn theo quy định BLDS năm 2015 thì: i)Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này; và ii) Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được . Theo đó, BLDS năm 2005 muốn xác định hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn phải có 3 căn cứ. Thứ nhất, có lỗi vô ý của chủ thể gây ra nhầm lẫn; thứ hai, có sự nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng; thứ ba, bên gây ra nhầm lẫn không chấp nhận sửa đổi hợp đồng theo yêu cầu của bên nhầm lẫn. Còn theo quy định nói trên của BLDS năm 2015 thì nhầm lẫn là điều kiện cần, không đạt được mục đích của giao dịch là điều kiện đủ để yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. NHư vậy BLDS năm 2015 chỉ quan tâm đến hậu quả của việc nhầm lẫn dẫn đến không đạt được mục đích của giao dịch. Thực chất nhầm lẫn trong giao dịch dân sự “là sự không trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn thật sự của người thể hiện ý chí” . Chúng tôi cho rằng, nếu như quy định của BLDS năm 2005 là quá đơn giản, chưa đề cập đến mọi khía cạnh của nhầm lẫn, thì quy định của BLDS năm 2015 là không rõ ràng và thiếu tính hợp lý, bởi lẽ i) không cho biết thế nào là nhầm lẫn và; ii) không thể chỉ căn cứ vào việc có đạt được mục đích của giao dịch hay không để yêu cầu tuyên vô hiệu.
Chúng ta biết rằng, mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó . Thiết nghĩ, đây là quy định mang tính khái quát cao và có thể được áp dụng đối với mọi giao dịch dân sự. Đối với hợp đồng dân sự (cả hợp đồng thương mại) thì lợi ích mà chủ thể mong umốn đạt được khi ký kết hợp đồng là những lợi ích vật chất, có tính tài sản. Trong trường hợp này lợi ích được hiểu như vậy bởi vì: i) quan hệ hợp đồng là quan hệ tài sản nên lợi ích mà các bên mong umốn đạt được cũng phải có tính tài sản; ii) trong Luật Thương mại 2005 lợi ích được hiểu là có tính tài sản. Thật vậy, theo quy định tại Mục 13, Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, Luật Thương mại 2005, vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là vi phạm của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc ký kết hợp đồng. Vậy có tồn tại trường hợp các bên đạt được mục đích của hợp đồng nhưng việc hợp đồng được ký kết là do một trong các bên nhầm lẫn? Để giải quyết vấn đề này chúng ta hãy phân tích tình huống:
Ngày 1/4/2015 anh A (ở TP. HCM) mua xe hơi Toyota Corolla Altis mới 100% với giá 950 triệu VNĐ. Mục đích mua xe của ông A là để làm phương tiện di chuyển phục vu cho công việc của cá nhân ông A. Ngày 15 tháng 5 ông A được điều chuyển ra Hà Nội làm việc. Chưa bán được xe vì vội ra Hà Nội nên ông A cho bạn mình là ông B mượn sử dụng. Trong thời gian sử dụng ông B gặp tai nạn (15/6) và xe bị hỏng phần đầu. Ông B không thông báo cho ông A về tai nạn đó, tự sửa chữa. Ngày 20 tháng 7 cùng năm ông A vào TP. HCM với mục đích bán xe. Biết ông C có nhu cầu mua xe để làm phương tiện đi lại, ông A bán chiếc xe đó cho ông C và nói với ông C rằng, xe mới mua gần 4 tháng, chưa bị sửa chữa lần nào và vì không có nhu cầu sử dụng nên bán lại. Giá xe ông A bán cho ông C là 850 triệu VNĐ. Trong tình huống nói trên có thể nói rằng, việc ông C mua xe và xe được sử dụng tốt là đã đạt được mục đích của hợp đồng. Sau khi mua 2 tháng ông C tình cờ biết được xe của ông đã một lần bị hỏng đầu và đã được sửa chữa. Vấn đề đặt ra ở đây là ông C có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu hay không?
Trong ví dụ nói trên có 3 khả năng sau đây: i) nếu khi bán xe cho ông C, ông A không nói với ông C rằng, xe mới mua và chưa bị hư hỏng và sửa chữa lần nào thì khả năng ông C yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu khó có thể xảy ra; ii) Nếu ông A biết hoặc buộc phải biết xe bị hư hỏng vì tại nạn và được sửa chữa nhưng không nói cho ông C biết thì ông C có quyền yêu cầu hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối (ông A lừa dối ông C về tình trạng của xe); và iii) Ông A không biết và không buộc phải biết về tình trạng của xe nên cam kết với ông C như đã nói ở trên, trong trường hợp này thì sự nhầm lẫn của ông C có nguyên nhân từ thông tin do ông A cung cấp và đương nhiên có ông C có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Rõ ràng, ở đây nếu ông C biết về tình trạng của xe thì chắc chắn sẽ không mua và nếu mua thì phải với giá thấp hơn nhiều, về phần mình ông A cũng biết và buộc phải biết về điều đó. Rõ ràng, trong tình huống nói trên, mặc dù mục đích của hợp đồng vẫn đạt được nhưng rõ rang, nếu ông C biết được thông tin xe bị tai nạn thì sẽ không mua hoặc nếu mua thì với giá thấp hơn rất nhiều. Và chắc chắn một điều rằng, ông A biết, buộc phải biết rằng ông C, nếu biết được sự thật, đã không ký kết hợp đồng mua xe hoặc mua nhưng với các điều khoản hoàn toàn khác. 
Qua việc xem xét tính huống nói trên, chúng tôi cho rằng, không nên chỉ lấy tiêu chí đạt hay không đạt được mục đích của giao dịch dân sự để xác định nhầm lẫn là điều kiện để yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà còn cần phải xem xét vấn đề, người mua và những người bình thường khác có hay không ký kết hợp đồng nếu họ biết được tình trạnh thực tế liên quan đến hợp đồng.
1.2  Ngay cả khi lấy tiêu chí có hay không đạt được mục đích của giao dịch dân sự để xác định nhầm lẫn là điều kiện yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì vấn đề đặt ra là có phải trong mọi trường hợp, khi một hoặc các bên của giao dịch không đạt được mục đích của giao dịch thì đều có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và không có ngoại lệ cho trường hợp này. Rõ ràng, Khoản 1 Điều 126 BLDS 2015 khẳng định điều đó.
Chúng tôi cho rằng, nhầm lẫn làm cho một hoặc các bên không đạt được mục đích của việc ký kết hợp đồng đều có thể là căn cứ để yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có nhiều loại khác nhau (có nhiều lý do dẫn đến nhầm lẫn khác nhau).
Thứ nhất, một bên bị nhầm lẫn do bên kia cung cấp thông tin không xác thực nhưng bên đó đã không biết và không buộc phải biết những thông tin mà họ cung cấp là không xác thực.  Loại nhầm lẫn này được quy định rõ trong Nguyên tắc luật hợp đồng thương mại quốc tế và trong Nguyên tắc luật hợp đồng của Châu Âu.  Trong ví dụ trên ông A không biết và không buộc phải biết về việc xe bị hư hỏng nên đã cam kết với ông C. Như vậy ở đây ông C nhầm lẫn là do thông tin do ông A cung cấp. Trong trường hợp này, cam kết của ông A làm cho ông C tự tin hơn, tin tưởng hơn vào đối tượng của hợp đồng nên đã thực hiện giao dịch. Giả định nếu ông A không có sự cam kết của ông A thì rất có thể ông C sẽ không thực hiện giao dịch với ông A. Loại nhầm lẫn này, như đã đề cập ở trên, cho dù mục đích hợp đồng có thể đạt được, có thể là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Thứ hai, nhầm lẫn do bên bị nhầm lẫn không biết và không buộc phải biết rằng, họ bị nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng và hậu quả là họ không đạt được mục đích của hợp đồng. Sự nhầm lẫn này có thể xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh hoặc khả năng nhận thức của bên bị nhầm lẫn. Trong trường hợp này bên bị nhầm lẫn có thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bởi lẽ họ không nhận thức được hậu quả của hành vi.
Thứ ba, bên bị nhầm lẫn biết hoặc buộc phải biết rằng, họ bị nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này bên bị nhầm lẫn mặc dù không biết nhưng xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể họ buộc phải biết về khả năng họ bị nhầm lẫn nhưng đã không có những hành vi, biên pháp để khắc phục (trong những tình huống này những người bình thường khác sẽ không ký kết hợp đồng, thực hiện giao dịch). Trong trường hợp này mặc dù không đạt được mục đích của hợp đồng nhưng bên bị nhầm lẫn không có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Điều này được lý giải rằng, bên bị nhầm lẫn theo nguyên tắc buộc phải nhận thức được hậu quả của hành vi.
Thứ tư, có những lĩnh vực của hoạt động thương mại, có những hành vi được đặc trưng bởi sự nhầm lẫn, có nghĩa là nhầm lẫn thường xuyên xảy ra trong những tình huống đó và các bên của giao dịch biết và buộc phải biết về những tình huống này. Ví dụ, trên thị trường mua bán ô tô đã qua sử dụng thì người mua cần phải ý thức và phải biết rằng,  nhầm lẫn là điều không tránh khỏi. Nhận thức được như vậy nhưng họ vẫn ký kết hợp đồng mua bán có nghĩa là họ chấp nhận rủi ro. Điều này cũng có nghĩa là họ nhận thức được hậu quả của hành vi, và việc không đạt được mục đích của giao dịch không được coi là căn cứ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Từ những phân tích và luận giải ở trên có thể nói rằng: i) nhầm lẫn không chỉ nên được xác định căn cứ vào mục đích của giao dịch có đạt được hay không; ii) không phải mọi nhầm lẫn làm cho một hoặc các bên không đatu được mục đích của giao dịch đều là căn cứ để yêu cầu toàn án tuyên bố giao dịch (hợp đồng) vô hiệu.
2. Hậu quả pháp lý khi hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn.
Hợp đồng bị tuyên vô hiệu sẽ dẫn đến một số hậu quả pháp lý. Hợp đồng bị vô hiệu có thể vì nhiều lý do khác nhau, tức là do vi phạm các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực khác nhau. Mỗi loại điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có đặc trưng riêng. Chính vì lẽ đó nên theo nguyên tắc, bên cạnh hậu quả pháp lý chung khi hợp đồng vô hiệu, ví dụ, hợp đồng không có hiệu lực kể từ ngày ký, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… còn có những hậu quả pháp lý đặc thù, chỉ đặc trưng cho loại hợp đồng vô hiệu đó, ví dụ, bồi thường thiệt hại, và đương nhiên tính đặc thù này phải được thể hiện trong pháp luật. Rõ ràng, hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn không thể hoàn toàn giống với hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu vì những lý do khác, ví dụ, như lừa dối, đe doạ. Trong khi đó BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 đều quy định hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu chung cho tất cả các trường hợp.
Khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của bên bị nhầm lẫn thì hoặc là bên bị nhầm lẫn chịu thiệt hại hoặc bên kia chịu thiệt hại. Vấn đề đặt ra là ai sẽ bồi thường những thiệt hại đó. Vấn đề có vẻ như đã được giải quyết, bởi lẽ theo quy định tại khoản 4, Điều 131 BLDS 2015, trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường . Nhưng thực tế lại không như vậy. Quy định nói trên của cả BLDS 2005 và của cả BLDS 2015 chỉ có thể được áp dụng cho trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của BLDS 2005, bởi lẽ nhầm lẫn theo quy định tại Điều 131 BLDS 2005 là do lỗi vô ý của bên không nhầm lẫn. Trong khi đó quy định trên, mặc dù được có tại khoản 4, Điều 131 BLDS 2015 nhưng không thể được áp dụng để xác định ai phải bồi thường thiệt hại, bởi lẽ nhầm lẫn theo quy định tại Điều 126 BLDS 2015 không đề cập đến lỗi.
Như vậy, khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do bị nhầm lẫn và vì hợp đồng vô hiệu nên một hoặc các bên bị thiệt hại nhưng không thể xác định được lỗi thì rõ ràng, việc áp dụng Khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 là không thể.
Chúng ta có thể xem xét hai trường hợp: bên bị nhầm lẫn chịu thiệt hại và bên không nhầm lẫn chịu thiệt hại khi hợp đồng bì tuyên vô hiệu theo yêu cầu của bên bị nhầm lẫn.
Trường hợp bên bị nhầm lẫn bị thiệt hại. Như đã đề cập ở trên, nhầm lẫn có thể do hành vi của một bên và cũng có thể tự nhầm lẫn. Nếu bên bị nhầm lẫn tự nhầm lẫn thì phải chịu thiệt hại do hợp đồng vô hiệu. Bởi lẽ trong trường hợp này họ có 2 sự lựa chọn, yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu hoặc không. Việc họ chọn phương án yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có nghĩa là họ đã chấp nhận thiệt hại đó.
trường hợp nhầm lẫn do bên còn lại cung cấp thông tin không chính xác thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên cung cấp thông tin phải bồi thường thiệt hại mặc dù bên cung cấp không biết và không buộc phải biết thông tin mà họ cung cấp là không chính xác. Có thể lấy ví dụ sau. Để bảo đảm cho khoản vay của Công ty A tại Ngân hàng, bà B đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mang tên bà B và chồng là ông C cho Ngân hàng (trước đó, ông C đã có giấy ủy quyền cho bà B “Bà B được quyền sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn làm ăn. Tôi hoàn toàn nhất trí và không phản đối gỉ”). Do Công ty A không trả được nợ nên Ngân hàng khởi kiện và đề nghị Tòa án kê biên phát mại toàn bộ tài sản của bên thứ ba đã được thế chấp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp.
Ông C khởi kiện và cho rằng: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được ký kết giữa bà B và Ngân hàng bị vô hiệu do bà B đã thực hiện không đúng phạm vi ủy quyền, bởi ông C chỉ đồng ý thế chấp khi chính bà B vay tiền chứ không phải cho bà B thế chấp để bào lãnh cho khoản vay của Công ty A.
Lẽ ra, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được ký giữa bà B và Ngân hàng tuy ghi là hợp đồng thế chấp nhưng thực chất là hợp đồng bảo lãnh; đến thời hạn trả nợ mà Công ty A không trả được số tiền còn nợ thì Ngân hàng có quyền được tiếp tục quản lý tài sản của người thứ ba đã thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty A như cam kết trong hợp đồng thế chấp. Mặc dù, trong giấy ủy quyền, ông C có nêu: “Bà B được quyền sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn làm ăn. Tôi hoàn toàn nhất trí và không phản đổi gì” nhưng phía Ngân hàng đã nhầm lẫn là ông C đã đồng ý để bà B dùng quyền sử dụng đất để thế chấp cho Ngân hàng, bà B không thực hiện quá phạm vi ủy quyền. Do đó, Ngân hàng có quyền yêu cầu bà B phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp bên không nhầm lẫn bị thiệt hại. Nếu bên yêu cầu toà tuyên bố hợp đồng vô hiệu bị nhầm lẫn do hành vi của bên không nhầm lẫn thì rõ ràng, bên không nhầm lẫn phải chịu thiệt hại đó. Bởi lẽ nhầm lẫn có nguồn gốc từ hành vi của họ, cho dù họ không biết và không buộc phải biết rằng, hành vi của họ làm cho bên kia nhầm lẫn nên đã giao kết hợp đồng, thực hiện giao dịch. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi bên không nhầm lẫn bị thiệt hại do toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo yêu cầu của bên bị nhầm lẫn do tự nhầm lẫn. Ví dụ, người mua yêu cầu toà án tuyền bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 126 BLDS 2015 do người người mua bị nhầm lẫn theo kiểu tự nhầm lẫn. Vì hợp đồng bị tuyên vô hiệu nên người bán bị thiệt hại. Người mua bị nhầm lẫn không phải do lỗi của người bán, vì vậy nếu bắt buộc người bán phải chịu thiệt hại đó thì có vẻ không hợp lý, thiếu cơ sở. Người mua hoàn toàn không có lõi khi họ bị nhầm lẫn vì vậy không thể bắt buộc người mua bồi thường thiệt hại cho người bán theo quy định tại Khoản 4 Điều 131 BLDS 2015. Trong tình huống này thiệt hại của người bán được giải quyết và xử lý như thế nào?
 Như đã nói ở trên, trường hợp này sự nhầm lẫn xuất phát từ phía người mua (người mua tự nhầm lẫn). Do đó, khi người mua tự nhầm lẫn nên không đạt được mục đích của giao dịch (hợp đồng) thì họ có 2 sự lựa chọn và tương ứng 2 hậu quả đối với người bán: Tiếp tục thực hiện hợp đồng và yêu cầu toà tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Người mua Người bán
Thực hiện HĐ: Bị thiệt hại Không bị thiệt hại
Vô hiệu HĐ: Không bị thiệt hại Bị thiệt hại
(hoặc tránh thiệt hại lớn hơn)
Sơ đồ trên cho thấy rằng, người mua vì muốn không bị thiệt hại hoặc tránh thiệt hại nên đã yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu và vì hợp đồng vô hiệu nên người bán bị thiệt hại. Rõ ràng, sẽ là không hợp lý nếu bắt người bán phải chịu thiệt hại đó, bởi lẽ như vậy thì người bán phải chịu hậu quả do hành vi của người khác gây ra. Chúng tôi cho rằng, trong tình huống này thì người mua phải bồi thường thiệt hại cho người bán là hợp lý.
Từ những phân tích ở trên có thể nói rằng, BLDS cần thiết phải phân định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể liên quan khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn. Việc quy định rõ ràng như vậy bắt buộc bên bị nhầm lẫn phải có sự cân nhắc kỹ trước khi yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Điều này rõ ràng đảm bảo được trật tự cho lưu thông dân sự và hoạt động thương mại.
Kết luận:
Từ những phân tích và lập luận nói trên, chúng tôi cho rằng, sẽ thuyết phục và hợp lý hơn nếu Điều 126 BLDS 2015 có nội dung như sau:
1. Bên nhầm lẫn về thông tin hoặc pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, nếu sự nhầm lẫn là nghiêm trọng và lớn đến mức mà một người bình thường, trong hoàn cảnh tương tự sẽ không giao kết hoặc chỉ giao kết với điều kiện hoàn toàn khác nếu người này đã biết rõ tình trạng thực tế;
2. Bên nhầm lẫn không được quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu: a) buộc phải biết về sự nhầm lẫn nhưng đã không tìm hiểu kỹ thông tin;b)Buộc phải biết rằng, nhầm lẫn là đặc trưng của loại giao dich đó.
3. Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên còn lại bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được rằng nhầm lẫn xuất phát từ hành vi hay những thông tin do bên đó cung cấp.
4. Bên bị nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại nếu không chứng minh được rằng, nhầm lẫn là do lỗi của bên còn lại.

HÌNH THỨC VĂN BẢN, VĂN BẢN CÓ CHỨNG THỰC LÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

HÌNH THỨC VĂN BẢN, VĂN BẢN CÓ CHỨNG THỰC LÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM
ThS. Lê Minh Hùng, Đại học Luật TP. HCM
Đặt vấn đề: Bộ luật Dân sự 2005, mặc dù đã có nhiều thay đổi hơn so với Bộ luật Dân sự 1995, tuy nhiên sau hơn 4 năm có hiệu lực đã bộc lộ khá nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định liên quan đến chế định quyền sở hữu và hợp đồng. Đối với chế định hợp đồng, một trong những vấn đề được giới nghiên cứu cũng như giới thực tiễn quan tâm là hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Về vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng, cụ thể ở đây là hình thức văn bản, văn bản có chứng thực, có nhiều ý kiến khác nhau trong khoa học pháp lý. Có quan điểm cho rằng, hình thức hợp đồng có hai chức năng (i) là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và (ii) là bằng chứng giao kết hợp đồng . Một số tác giả khác lại cho rằng, “lý do hạn chế về hình thức hợp đồng rất khác nhau, tùy quan điểm của mỗi quốc gia. Nhưng tựu trung lại có ba lý do chủ yếu sau đây: để bảo toàn chứng cứ; để khẳng định “tính nghiêm túc, tính chắc chắn” của sự thể hiện ý chí các bên, và để bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự công cộng” . Theo Vũ Văn Mẫu, vai trò của hình thức hợp đồng, theo kiểu của “hình thức chủ nghĩa ngày nay” có thể tóm tắt trong bốn điểm: (1) Các hình thức trọng thể được ấn định cho một số hành vi quan trọng, cốt để các đương sự chú trọng đặc biệt việc mình sắp làm; (2) Các hình thức chứng cứ để dẫn chứng trước pháp luật (luật tố tụng trong trường hợp này chỉ chấp nhận hai cách dẫn chứng: “chứng thư hợp đồng” và “sự thú nhận của đương sự”); (3) Các hình thức cấp-tư-năng nhằm đảm bảo quyền định đoạt của những người chưa hoàn toàn có tư cách chủ thể độc lập để tự mình xác lập các giao dịch dân sự (ví dụ người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình); (4) Các hình thức công bố trong trường hợp có liên quan đến người thứ ba . Một số tác giả khác, ngoài các vai trò và ý nghĩa nói trên còn đề cập đến một số vai trò khác nữa của hình thức hợp đồng . Từ những quan điểm nói trên, chúng tôi cho rằng, hình thức của hợp đồng-cụ thể là hình thức văn bản và văn bản có chứng thực của hợp đồng đảm nhận ba vai trò cơ bản sau đây: i) là bằng chứng tồn tại của hợp đồng; ii) là điều kiện  để hợp đồng có hiệu lực và; iii) có giá trị đối kháng với người thứ ba. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, việc coi trọng chức năng nào trong ba chức nằng trên nên tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Trong phạm vi bài viết chúng tôi muốn phân tích kỹ hơn về mối liên hệ giữa hình thức văn bản, văn bản có chứng thực với hiệu lực của hợp đồng.
Hợp đồng là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Trong quá trình đàm phán, thương thảo để ký kết hợp đồng mỗi chủ thể đều có ý chí của mình. Khi ý chí của các bên có sự trùng hợp thì coi là có sự thoả thuận và hợp đồng được ký kết. Sự trùng hợp ý chí, hay nói cách khác sự thoả thuận của các bên được thể hiện bằng những hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào ý chí của họ: có thể bằng lời nói, có thể bằng hành vi và có thể bằng văn bản. Các hình thức thể hiện ý chí đó được gọi là hình thức của hợp đồng. Theo nguyên tắc thì các bên có quyền lựa chọn hình thức thể hiện ý chí của họ và đó được coi là một trong những nội dung của tự do hợp đồng-tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng. Tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, giá trị, sự phức tạp của hợp đồng mà các bên lựa chọn hình thức phù hợp. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau pháp luật khuyến nghị hoặc bắt buộc hình thức của hợp đồng phải bằng văn bản, văn bản có chứng thực.
Liên quan đến hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong khoa học pháp lý của Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau. Một số tác giả cho rằng, nên quy định hình thức là một điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực trong những trường hợp cần thiết, và nếu hợp đồng không tuân thủ hình thức luật định thì có thể bị tuyên bố vô hiệu . Có thể nhận thấy, các tác giả theo quan điểm nói trên có vẻ như coi trọng yếu tố hình thức của hợp đồng. Rõ rằng, hợp đồng là sự thoả thuận và nếu quá coi trọng chủ nghĩa hình thức trong việc công nhận hiệu lực của hợp đồng sẽ dẫn tới sự can thiệp quá sâu của nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự do hợp đồng và làm cản trở sự phát triển của các quan hệ pháp luật tư vì đã hạn chế sự tự do ý chí của các bên. Tự do ý chí không chỉ là tự do tự nguyện thoả thuận xác lập các điều khoản của hợp đồng mà còn là tự do trong việc lựa chọn hình thức biểu hiện của tự do ý chí đó. Vì những lý do trên nên chúng tôi cho rằng, khó có thể chia sẽ với quan điểm nói trên. Một số tác giả khác lại cho rằng, không nên quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thậm chí nên bỏ hẳn các quy định về hình thức . Quan điểm này có vẻ như coi nhẹ hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Việc coi nhẹ tới mức bỏ hẳn yếu tố hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến việc thiếu cơ chế để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng, thiếu chứng cứ chứng minh tồn tại của hợp đồng, khó có thể bảo đảm trật tự công cộng cũng như an toàn pháp lý cho các bên và cả người thứ ba.
Pháp luật của các nước khác nhau có sự đánh giá hình thức văn bản của hợp đồng không giống nhau, có những yêu cầu về hình thức văn bản của hợp đồng, và không có pháp luật của nước nào quy định mọi trường hợp vi phạm hình thức mà pháp luật quy định là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng-đều làm cho hợp đồng vô hiệu nhưng cũng không có hệ thống pháp luật nào miễn trừ hoàn toàn các yêu cầu về hình thức .
 Pháp luật của Pháp coi trọng chức năng chứng cứ của hình thức văn bản hơn là căn cứ để xác định hiệu lực của hợp đồng, tức là thực hiện chức năng chứng cứ . Không tuân thủ hình thức văn bản do luật định không dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng mà chỉ làm cho việc chứng minh sự tồn tại của hợp đồng trở nên khó khăn hơn, hay nói cách khác là xác định hiệu lực của hợp đồng trở nên khó khăn.
Pháp luật của Đức và các nước thuộc gia đình pháp luật Đức dường như khắt khe hơn pháp luật của Pháp khi quy định hình thức của hợp đồng. Có thể nói rằng, pháp luật của Đức coi việc tuân thủ hình thức văn bản do luật định là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Không tuân thủ hình thức văn bản có thể dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng. Tuy nhiên thực tiễn xét xử ở Đức cho thấy rằng, quy định về hình thức bắt buộc của hợp đồng không được áp dụng một cách máy móc mà tuỳ thuộc vào hành vi của các bên. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến mua bán bất động sản toà án Đức thường xem xét hành vi của các bên có phù hợp với nguyên tắc thiện chí hay không xuất phát từ những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Năm 1947 bị đơn chia lô đất thuộc sở hữu của mình thành nhiều lô và cho một số nông dân thuê. Bị đơn hứa với những người thuê rằng, sau 5 năm kể từ ngày thuê nếu những người thuê thực hiện chính xác và đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng thuê thì bị đơn sẽ chuyển giao quyền sở hữu các lô đất cho những người thuê. Hợp đồng được lập thành văn bản nhưng không chứng thực. Năm 1952 một trong số người thuê khiếu kiện yêu cầu bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu đối với lô đất cho người thuê. Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn mặc dù hợp đồng không tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật. Trong vụ này, xuất phát từ tình tiết, hoàn cảnh liên quan đến vụ án, toà án cho rằng, người thuê vì thiếu kinh nghiệm đã một cách chân thật tin vào lười hứa của bên cho thuê nên đã thực hiện một số công trình trên lô đất thuê và đã không tận dụng khả năng mua lô đất khác .
Trong thực tiễn xét xử ở Anh hình thành học thuyết “không thừa nhận quyền chối từ của chủ sở hữu” (proprietary estoppel), theo đó chủ sở hữu đất, một cách trực tiếp hay gián tiếp đã hứa chuyển quyền sở hữu cho người khác thì không được quyền viện dẫn đến sự vô hiệu của lời hứa nếu người được hứa một cách có cơ sở tin vào lời hứa đó nên đã thực hiện một số hành vi và vì thực hiện những hành vi đó nên phải chịu thiệt hại .
Pháp luật của Hoa Kỳ, Điều 2-201 UCC quy định, hợp đồng mua bán có giá trị từ 5000 USD phải được ký kết bằng văn bản, nếu không tuân thủ hình thức văn bản thì hợp đồng vẫn có thể có giá trị pháp lý nhưng các bên khó có thể bảo về được quyền lợi của mình tại toà, bởi lẽ không có chứng cứ. Từ năm 1982 trong pháp luật của Hoa Kỳ hình thành nguyên tắc: hợp đồng về chuyển quyền sở hữu đối với đất đai vi phạm yêu cầu về hình thức có thể không bị coi vô hiệu, nếu nguyên đơn có đầy đủ cơ sở tin rằng hợp đồng đã được ký kết và đã làm phát sinh hiệu lực, và trong trường hợp này, để đảm bảo sự công bằng, việc yêu cầu thực hiện hợp đồng phải được chấp nhận .
Về mối liên hệ giữa hình thức văn bản, văn bản có chứng thực với hiệu lực của hợp đồng, pháp luật Liên Bang Nga có lẽ được xây dựng trong sự kết hợp hài hoà giữa các hệ thống pháp luật. Nghiên cứu cho thấy rằng, luật Nga có phần coi trọng chức năng chứng cứ của hình thức văn bản hơn là chức năng là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Điều 162 BLDS Liên bang Nga quy định, i) hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản thông thường thì trong trường hợp có tranh chấp các bên mất quyền viện dẫn đến sự tồn tại của hợp đồng và các điều kiện của hợp đồng, tuy nhiên không làm các bên mất quyền sử dụng các chứng cứ bằng văn bản và các chứng cứ khác, và ii) không tuân thủ hình thức văn bản đơn giản làm cho hợp đồng vô hiệu nếu pháp luật có quy định hoặc các bên có thoả thuận. Điều 165 BLDS Liên Bang Nga quy định, hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản có chứng thực và yêu cầu đăng ký nếu pháp luật có quy định thì vô hiệu; tuy nhiên nếu một trong các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ giao dịch, mà theo quy định của pháp luật phải công chứng, chứng thực, và bên kia từ chối chứng thực, toà án có quyền theo yêu cầu của bên đã thực hiện, công nhận hợp đồng có hiệu lực. Trong trường hợp này hợp đồng không cần phải công chứng . Nếu hợp đồng cần phải đăng ký và đã được ký kết đúng hình thức, nhưng một trong các bên từ chối đăng ký, theo yêu cầu của bên kia toà án có quyền ra quyết định về việc đăng ký hợp đồng. Trong trường hợp này hợp đồng được đăng ký trên cơ sở quyết định của toà án, bên từ chối chứng thực hoặc đăng ký hợp đồng không có căn cứ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Có thể nhận thấy quy định của pháp luật Liên Bang Nga có nhiều điểm tương thích với pháp luật các nước và trong một chừng mực nhất định, rõ ràng và cụ thể hơn.
Về mối quan hệ giữa hình thức với hiệu lực của hợp đồng, có ý kiến cho rằng, quy định của BLDS 2005 hợp lý hơn so với BLDS 1995 . Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 “hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”, Điều 134 BLDS 2005 “trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”, khoản 2 Điều 401 “Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Các quy định nói trên cho thấy, mặc dù pháp luật có quy định một loại hợp đồng nào đó phải được ký kết bằng văn bản, văn bản có chứng thực tuy nhiên hợp đồng sẽ không bị coi là vô hiệu nếu các bên không tuân thủ hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định. Pháp luật quy định là vậy, tuy nhiên khi nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác thì không thể tìm thấy bất kỳ quy định nào, theo đó hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản, văn bản có chứng thực thì vô hiệu, trong nhiều trường hợp pháp luật chỉ quy định hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản. Ví dụ, Điều 450 BLDS 2005 quy định, hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, hay theo Điều 492, hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…
Chúng tôi cho rằng, cách quy định về hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS nói riêng là không rõ ràng. Sự không rõ ràng này được hợp thức hoá bởi Nghị quyết 01/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy rằng, hợp đồng mua bán nhà ở không được công chứng và một trong các bên yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu. Toà án áp dụng Nghị quyết 01/2003 nhưng trong hầu hết các trường hợp hợp đồng không thể được công chứng, chứng thực trong thời hạn một tháng kể từ ngày có Quyết định của Toà án. Trong những trường hợp như vậy hợp đồng vô hiệu. Cách giải quyết các tình huống nói trên theo pháp luật Việt Nam, theo ý kiến của chúng tôi là quá máy móc và không hợp lý. Bởi lẽ, thứ nhất,  như đã phân tích ở trên, hợp đồng là sự thoả thuận và hình thức của hợp đồng chỉ là hình thức thể hiện ý chí của các bên ra bên ngoài; thứ hai, rõ ràng hợp đồng không được công chứng, chứng thực là do một trong các bên không muốn, vậy thì Quyết định của Toà án cũng không thể thay đổi được ý chí của họ. Mặt khác, theo quy định của Điều 126 và Điều 409 BLDS 2005, khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó. Rõ ràng, ý chí chung của các bên được đánh giá cao hơn hình thức biểu hiện ra bên ngoài. Ý chí của các bên được hiểu là ý chí được biểu hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong khi đó, nếu theo Điều 134 và NQ 01/2003 thì pháp luật có vẻ như tôn trọng ý chí được biểu hiện sau thời điểm hợp đồng được ký kết. Điều này có vẻ trái với lý thuyết về tự do ý chí cũng như nguyên tắc giải thích hợp đồng.
Theo quan điểm của chúng tôi, để xác định hình thức văn bản có chứng thực là điều kiện để hợp đồng, ví dụ, hợp đồng mua bán nhà ở hoặc hợp đồng thuê nhà với thời hạn trên 6 tháng, có hiệu lực thì cần phải xác định: i) tại sao pháp luật bắt buộc hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản và có chứng thực? ii) Ý nghĩa của việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng mua bán nhà ở.
Pháp luật quy định hợp đồng mua bán nhà ở hoặc thuê nhà với thời hạn trên 6 tháng phải được ký kết bằng văn bản có chứng thực hoặc công chứng có lẽ là vì những lý do sau đây: i) tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Rõ ràng, nhà ở là loại tài sản đặc biệt nên cần phải có sự quản lý chặt chẽ hơn so với các loại tài sản khác; ii) vì mục đích thu thuế. Việc thu các loại thuế và lệ phí liên quan đến mua bán chuyển nhượng hay thuế nhà chỉ có thể thực hiện được một cách có hiệu quả khi và chỉ khi nhà nước có thể quản lý được các giao dịch. Nếu như chỉ vì những mục đích nói trên thì có lẽ sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu pháp luật quy định áp chế tài hành chính đối với hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản có chứng thực hoặc công chứng; iii) để tránh rủi ro pháp lý cho các bên và của người thứ ba. Liên quan đến điều này, chúng tôi cho rằng, có lẽ các nhà làm luật dự liệu rằng, với hợp đồng mua bán nhà ở nếu không được lập bằng văn bản thì khi giải quyết tranh chấp phát sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định chứng cứ. Điều này sẽ làm cho quá trình giải quyết tranh chấp kéo dài, không hiệu quả.
Công chứng hoặc chứng thực chỉ là sự làm chứng của người thứ ba về sự tồn tại thoả thuận của các bên. Khác với người làm chứng thông thường, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban Nhân dân phường xã là những cơ quan tổ chức có thẩm quyền nên sự làm chứng của họ có giá trị chứng cứ cao hơn. Như vậy, sự chứng thực của công chứng hoặc Uỷ ban Nhân dân phường xã chí có vai trò là xác nhận ý chí của các bên.
Việc quy định không rõ ràng hình thức văn bản, văn bản có chứng thực là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng còn dẫn đến những khó khăn trong việc xác định thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLDS, hợp đồng không tuân thủ hình thức do luật định thì thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 2 năm kể từ ngày hợp đồng được ký kết. Theo quan điểm của một số tác giả, dù giao dịch dân sự có vi phạm điều kiện về hình thức mà các bên không khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án không xem xét; nếu trường hợp đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về hình thức thì theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự, thời gian tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về hình thức chỉ có hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp nhận yêu cầu đó. Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự, nên các vụ án về hợp đồng dân sự đương nhiên áp dụng Điều 136 Bộ luật Dân sự . Cũng theo quan điểm trên, nếu một bên khởi kiện ra Toà án yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu sau 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch thì Toà án bác yêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán. Tuy nhiên nếu trong thời hạn 2 năm một bên có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn 1 tháng. Quá thời hạn đó mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu .  Cách giải thích như trên khó có thể chia sẻ.
Kết luận: Từ việc xem xét phân tích quy định pháp luật và án lệ của một số nước, có thể kết luận rằng, ở đa số các nước rất ít khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu do không tuân thủ hình thức do luật định, mà chỉ gây khó khăn trong việc xác định chứng cứ chứng minh sự tồn tại của hợp đồng. Như vậy có thể nói rằng, theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, khi pháp luật có qui định hợp đồng phải được lập thành văn bản hoặc văn bản có công chứng, chứng thực, thì hình thức trong trường hợp đó có vai trò chủ yếu là bằng chứng của hợp đồng.
Từ những phân tích trên, tôi cho rằng: i) các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến hình thức là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực cần phải được quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Nếu theo hường này thì thiết nghĩ các nhà làm luật nên tham khảo các quy định tại Điều 162 và Điều 165 BLDS Liên Bang Nga; ii) Hội đồng thẩm phán TANDTC cần có sự giải thích việc áp dụng các quy định về hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tương tự án lệ và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các nước.

BÀN VỀ KHOẢN 3 ĐIỀU 1 LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 TS Luật học Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

BÀN VỀ KHOẢN 3  ĐIỀU 1 LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
TS Luật học Dương Anh Sơn, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
1. Đặt vấn đề: Việc Quốc hội thông qua Bộ luật dân sự và Luật thương mại sửa đổi đồng thời hủy bỏ hiệu lực Pháp lệnh hợp đồng kinh tế kể từ ngày 1.1.2006 là Trong  đời sống pháp lý của chúng ta thời gian qua có lẽ việc Quốc Hội thông qua Luật thương mại 2005 được coi là sự kiện pháp lý có ý nghĩa quan trọng. Điều này được giải thích bởi hoạt động kinh doanh thương mại cần có một văn bản pháp lý, thế nhưng Luật thương mại 1997 ngay từ khi mới được thông qua đã không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn khách quan đó.
Bộ luật dân sự, Luật thương mại sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực kể từ ngày 1.1.2006 đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ, khi mà một quan hệ hợp đồng cùng một lúc có thể  được điều chỉnh bởi các quy định trong ba văn bản pháp luật khác nhau. Sau khi Luật thương mại 2005 được thông qua đã có nhiều ý kiến khen ngợi những điểm mới của nó . Chúng tôi đồng ý với điều đó. Không thể công công nhận một điều, rằng, những người soạn thảo Luật thương mại năm 2005 đã rất cố gắng trong việc khắc phục những điểm chưa phù hợp của Luật thương mại năm 1997, và đặc biệt là đưa vào Luật thương mại nhiều quy định mới nhằm điều chỉnh một số loại hình hoạt động thương mại mà trước đây Luật thương mại 1997 chưa đề cập đến, ví dụ: mua bán hàng hoá qua sở giao dịch, nhượng quyền thương mại, logistic…Tất nhiên một sản phẩm ra đời sau bao giờ cũng tốt hơn sản phẩm ra đời trước và vì vậy Luật thương mại 2005 có nhiều quy định tốt hơn, có nhiều điểm mới hơn Luật thương mại 1997 là điều đương nhiên, hợp với lẽ thường. Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu kỹ Luật thương mại 2005, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những điểm mới còn có một số quy định cần phải được lý giải và làm sáng rõ hơn và một trong số đó là quy định tại khoản 3 Điều 1, theo quy định này thì phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại bao gồm cả hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng luật này. Theo ý kiến của chúng tôi, quy định nói trên làm cho chúng ta phải xem xét lại hai vấn đề cơ bản sau đây: thứ nhất, mức độ thống nhất giữa Bộ luật dân sự và Luật thương mại cũng như sự thống nhất giữa Luật Thương mại với các văn bản pháp luật liên quan khác như Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật Doanh nghiệp; thứ hai, các quy định của Luật thương mại bảo vệ quyền lợi của kẻ yếu hơn trong quan hệ hợp đồng ở mức độ nào. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến hai vấn đề nói trên.
2. Theo quan điểm của chúng tôi thì quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 sẽ không gây ra hệ quả nào nếu như có sự thống nhất ở mức độ cao giữa Luật thương mại và Bộ luật dân sự. Chúng ta đều biết rằng ở nhiều nước không có sự phân chia luật tư thành Luật dân sự và Luật thương mại, một số nước khác lại có sự phân chia đó và ở đó tồn tại cả Bộ luật dân sự và cả Bộ luật (luật) thương mại. Tuy nhiên ở các nước này các quy định của Bộ luật (hay luật) thương mại chỉ có chức năng là bổ sung cho Bộ luật dân sự mà không thể thay thế hay mâu thuẫn với quy định của Bộ Luật dân sự mà chỉ bổ sung thêm một số quy định đặc thù cho hoạt động kinh doanh thương mại, và Luật thương mại 2005 của chúng ta cũng được xây dựng theo hướng đó, theo thường lấy Luật dân sự làm trung tâm . Ví dụ, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự thường là vật đặc định hay là vật đồng loại đã được đặc định hóa, trong khi đó đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa thường là vật đồng loại. Vì vậy, để xác định thời điểm chuyển quyền sở đối với hàng hóa ngoài các quy định chung trong Bộ luật dân sự, luật thương mại còn có thêm một số quy định đặc thù. Hay là Luật thương mại có những quy định điều chỉnh một số loại hoạt động chỉ có trong hoạt động kinh doanh thương mại mà thôi, ví dụ: Logistic, nhượng quyền thương mại... Theo nguyên tắc, phải có sự thống nhất ở mức độ cao giữa các quy định của Bộ luật dân sự và Luật thương mại khi các quy định đó được xây dựng để điều chỉnh cùng một vấn đề nào đó. Khi xây dựng, soạn thảo Bộ luật dân sự sửa đổi và Luật thương mại sửa đổi, các nhà làm luật có kỳ vọng là đảm bảo sự thống nhất giữa hai văn bản pháp luật đó. Thực tế cho thấy, các quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005 trong một mức độ nào đó (chỉ trong một mức độ nào đó mà thôi) đã đáp ứng được điều đó. Tuy nhiên chúng tôi vẫn cảm thấy rằng, những người soạn thảo Luật thương mại 2005 hình như vẫn còn hoài nghi về sự thống nhất đó, và khoản 3 Điều 1 Luật thương mại thể hiện sự hoài nghi đó. Rõ ràng, nếu có sự thống nhất cao giữa hai văn bản pháp lý nói trên thì việc áp dụng văn bản pháp lý nào cho một hợp đồng cụ thể nào đó cũng đều cho những hệ quả pháp lý như nhau và quy định tại Khoản 3 Điều 1 có vẻ như là không cần thiết. Theo quan điểm của chúng  tôi, quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 là sự mặc nhiên công nhận có sự tồn tại một số mâu thuẫn giữa nó với Bộ luật dân sự. Đây là một trong những lý do để chúng tôi có sự so sánh kỹ một số quy định của Bộ luật dân sự và Luật thương mại liên quan ngay từ khi hai văn bản này mới được Quốc hội thông qua.
Thực vậy, khi xem xét kỹ một số quy định của Luật thương mại 2005, chúng tôi nhận thấy vẫn còn tồn tại một số mâu thuẫn giữa hai văn bản pháp luật đó, điển hình là các quy định về phạt vi phạm. Thứ nhất, khi nói đến mức phạt vi phạm, khoản 2 Điều 422 Bộ luật dân sự quy định rằng: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận” và không giới hạn mức phạt vi phạm tối đa. Theo thiển ý của chúng tôi thì phạt vi phạm được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 gần giống với phạt vi phạm trong pháp luật các nước Châu Aâu lục địa, Liên bang Nga. Pháp luật của các nước nói trên coi mức phạt vi phạm là khoản thiệt hại được các bên nhìn thấy trước hay dự liệu được trước tại thời điểm ký kết hợp đồng . Trong khi đó Điều 301 Luật thương mại 2005 lại quy định rằng: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Một điều luôn làm cho chúng tôi băn khoăn, tại sao Luật thương mại của chúng ta lại giới hạn mức phạt vi phạm hợp đồng, trong khi đó, theo chúng tôi được biết, hiện nay pháp luật của các nước lại không có quy định tương tự này. Phải chăng những người soạn thảo Luật thương mại muốn gắn chức năng răn đe, trừng phạt bên vi phạm hợp đồng nhằm bảo vệ trật tự kinh doanh thương mại cho chế tài phạt vi phạm. Về vấn đề này chúng tôi đã có dịp đề cập trong một bài viết trước khi Luật thương mại 2005 chưa được thông qua . Trong Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật thương mại (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua Số: 350/UBTVQH11 của Uûy ban thương vụ Quốc hội có nói rằng, việc quy định giới hạn phạt vi phạm ở mức 8% là hợp lý bới hai lý do sau đây: thứ nhất, kế thừa quy định của Luật thương mại 1997; thứ hai, mức phạt vi phạm 8% là phù hợp vì đã được thực tế kiểm chứng. Chúng tôi đồng ý với lý do thứ nhất, còn lý do thứ hai thì thật khó có thể thuyết phục được. Bởi vì thực tiễn cho thấy rằng, trong hoạt động kinh doanh thương mại, có rất ít trường hợp, khi ký kết hợp đồng các bên căn cứ vào Luật thương mại mà chủ yếu là căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (theo thói quen). Còn trong thực tiễn giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế thì rất ít khi Tòa án viện dẫn đến các quy định của Luật thương mại 1997.
Sự khác biệt về mức phạt vi phạm dẫn đến sự khác biệt trong việc quy định mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Điểm 2 Khoản 3 Điều 422 Bộ luật dân sự quy định rằng: “trong trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. Theo quy định của Khoản 2 Điều 307 Luật thương mại 2005, trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm mà không có thoả thuận bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Tại sao lại có sự khác biệt giữa các quy định liên quan đến phạt vi phạm trong hai văn bản pháp luật vừa mới được ban hành? Chúng tôi đã cố gắng tìm lời giải đáp cho điều này nhưng cho đến bây giờ vấn đề vẫn còn để ngỏ. Chúng tôi cho rằng, sự không thống nhất giữa các quy định về phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005 trong tương lai gần chắc chắn sẽ gây ra cuộc tranh luận liên quan đến việc xác định văn bản nào sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cụ thể nào đó.
Caàn phaûi hieåu raèng Luaät thöông maïi ñöôïc aùp duïng ñeå ñieàu chænh hoaït ñoäng thöông maïi, tuy nhieân hoaït ñoäng thöông maïi khoâng chæ ñöôïc ñieàu chænh baèng Luaät thöông maïi, maø coøn coù theå ñöôïc ñieàu chænh bôûi caùc vaên baûn phaùp luaät coù lieân quan khaùc trong ñoù coù Boä luaät daân söï. Ñieàu naøy cuõng ñöôïc theå hieän roõ taïi Ñieàu 4 Luaät thöông maïi 2005. Theo yù kieán cuûa chuùng toâi, hôïp ñoàng ñöôïc kyù keát giöõa moät beân khoâng nhaèm muïc ñích kieám lôøi vôùi thöông nhaân chuyeân nghieäp laø moät laø moät quan heä daân söï theo caùch phaân chia Luaät daân söï vaø Luaät thöông maïi ôû Vieät Nam chuùng ta. Theo quy ñònh cuûa khoaûn 3 Ñieàu 1 Luaät thöông maïi, Luaät thöông maïi ñöôïc aùp duïng ngay caû khi beân tham gia hôïp ñoàng khoâng vì muïc ñích sinh lôøi  yeâu caàu aùp duïng noù. Theá thì moät caâu hoûi nöõa coù theå ñöôïc ñaët ra, neáu cuõng trong hôïp ñoàng ñoù beân tham gia khoâng vì muïc ñích kieám lôøi löïa choïn troïng taøi thöông maïi ñeå giaûi quyeát tranh chaáp phaùt sinh töø hôïp ñoàng ñoù thì lieäu phaùp luaät coù chaáp nhaän söï löïa choïn ñoù hay khoâng. Taát nhieân laø khoâng. Trong hôïp ñoàng giöõa moät beân laø thöông nhaân vôùi moät beân khaùc khoâng phaûi laø thöông nhaân neáu coù thoûa thuaän troïng taøi thì thoûa thuaän troïng taøi ñoù bò coi laø voâ hieäu theo quy ñònh cuûa khoaûn 1 Ñieàu 10 Phaùp leänh Troïng taøi thöông maïi vaø tranh chaáp phaùt sinh töø nhöõng hôïp ñoàng noùi treân khoâng thuoäc thaåm quyeàn cuûa troïng taøi.
3. Một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng của một văn bản pháp luật là văn bản pháp luật đó có bảo vệ được quyền lợi của kẻ yếu hơn và quyền lợi của người lương thiện hay không. Khi xem xét khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 có thể nhận thấy rằng, Luật thương mại chưa thật sự làm được điều đó.
Theo thiển ý của chúng tôi, rất có thể khi xây dựng khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, những người soạn thảo cho rằng: quy định này chỉ dành cho những người biết một cách rõ ràng rằng, việc áp dụng Luật thương mại sẽ bảo vệ quyền lợi của họ tốt hơn. Thế nhưng một vấn đề có thể được đặt ra, có phải bao giờ bên tham gia không nhằm mục đích sinh lợi chọn Luật thương mại vì họ hiểu rõ các quy định của Luật thương mại hay không? Không loại trừ những trường hợp, khi bên tham gia không nhằm mục đích sinh lợi chọn Luật thương mại áp dụng mà không thể biết rằng, việc áp dụng Luật thương mại sẽ gây cho họ nhiều bất lợi hơn. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng hợp đồng được ký kết giữa công ty - thương nhân chuyên nghiệp với khách hàng – không phải là thương nhân, để tạo cho mình một số thuận lợi nào đó nên trong quá trình đàm phán, công ty A bằng sự lọc lõi của mình đã làm cho khách hàng tin tưởng rằng Luật thương mại bảo vệ của lợi của khách hàng tốt hơn các quy định của Bộ luật dân sự. Kết quả là khách hàng- người ký kết hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi- chọn Luật thương mại. Trong trường hợp này, rõ ràng khách hàng chọn luật thương mại không phải vì họ hiểu rõ nó mà vì sự lọc lõi, kinh nghiệm của công ty A. Pháp luật của nhiều nước, về vấn đề này tiếp cận khác với luật thương mại Việt nam 2005 . Có lẽ những người soạn thảo Luật thương mại 2005 hình như chưa có sự dự liệu đến tình huống này. Cũng có thể những người soạn thảo đã có sự dự liệu trên, tuy nhiên có thể họ cho rằng, bên tham gia hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận không biết rõ luật thì đừng chọn, còn nếu đã chọn thì phải chấp nhận. Mặt khác trong những trường hợp này thì một một vấn đề nữa có thể được đặt ra, Tòa án có áp dụng Luật thương mại theo sự lựa chọn của bên tham gia không vì mục đích sinh lợi hay không nếu việc áp dụng Luật thương mại rõ ràng là gây bất lợi cho bên bên đó.
Tự do hợp đồng trong nền pháp chế văn minh không còn giống với tự do hợp đồng thời tiền tư bản chủ nghĩa, khi mà pháp luật chỉ có mỗi một việc là công nhận sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Chúng tôi sẽ bàn đến nguyên tắc “Tự do hợp đồng” một cách kỹ hơn trong một dịp khác. Ở đây chúng tôi chỉ có một số ý kiến, rằng hiện nay, tự do hợp đồng không có nghĩa là pháp luật bao giờ cũng tôn trọng sự thoả thuận của các bên, mà tự do hợp đồng chịu nhiều sự hạn chế của pháp luật nhằm bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ lợi ích của bên yếu hơn, của những người lương thiện. “Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu”  và dĩ nhiên Luật thương mại cần phải làm được điều đó, bởi vì bên không phải là thương nhân là kẻ yếu thế, là người không những thiếu mà còn không có kinh nghiệm . Hơn nữa khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 không nói rõ, bên tham gia hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi là ai, là người không lấy kinh doanh làm nghề của mình hay là thương nhân. Trong trường hợp thứ nhất, rõ ràng một người bình thường không hề có hay là có rất ít thông tin về pháp luật hợp đồng cũng như thông tin về đối tượng của hợp đồng, không thể cứ một lần ký kết hợp là một lần họ lại nhờ sự tư vấn của luật sư, và như vậy so với thương nhân họ được coi là bên yếu hơn. Trong trường hợp thứ hai, mặc dù cũng là thương nhân nhưng họ ký hợp đồng không phải vì lợi nhuận mà vì mục đích thoả mãn nhu cầu của mình và đối tượng của hợp đồng không phải nằm trong lĩnh vực kinh doanh của họ, vì vậy rất có thể họ thiếu thông tin về đối tượng của hợp đồng và cả các quy định của pháp luật trong lĩnh vực khác với lĩnh vực kinh doanh của họ. Như vậy trong một mức độ nào đó họ cũng được coi là bên yếu hơn so với đối tác của mình.
4. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 1 thì Luật thương mại không những được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân với nhau mà còn được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng được ký kết giữa một bên là thương nhân và một bên không phải là thương nhân. Quy định nói trên của luật mang đến cho tác giả một số băn khoăn, mà cụ thể là nó được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học hay trên cơ sở thói quen được hình thành trong những năm vừa qua.
Thực tiễn ký hết hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại ở Việt Nam từ trước đến nay cho thấy rằng, hầu như trong tất cả các trường hợp, khi ký kết hợp đồng mà từ trước đến nay chúng ta vẫn gọi là hợp đồng kinh tế, các bên bao giờ cũng nói đến căn cứ pháp lý, ví dụ, căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các Nghị định hướng dẫn thi hành. Theo thiển ý của tôi thì việc đưa vào hợp đồng các loại căn cứ nói trên là một thói quen và là việc làm không cần thiết. Điều này được lý giải bởi việc, việc ký kết và thực hiện hợp đồng trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải chịu sự điều chỉnh của toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam chứ không phải riêng một văn bản nào đó. Khi có tranh chấp xảy ra từ hợp đồng thì việc xác định quy định nào, nằm trong văn bản pháp luật nào sẽ được áp dụng là công việc của các cá nhân, cơ quan và tổ chức có thẩm quyền, mà cụ thể là của thẩm phán, Tòa án và Trọng tài. Các bên căn cứ vào Bộ luật dân sự, Luật thương mại hay Pháp lệnh hợp đồng kinh tế khi ký kết hợp đồng tức là đã làm thay phần việc của thẩm phán và trọng tài viên. Theo thiển ý của chúng tôi, điều này cũng gần giống với việc, một người bình thường chỉ cho các chuyên gia cần phải làm gì trong lĩnh vực của họ. Bởi vì rõ ràng, thẩm phán và trọng tài viên hiểu rõ pháp luật hơn là các bên trong hợp đồng. Theo ý kiến của chúng tôi, có lẽ khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 được xây dựng trên thói quen đó.
Cần phải hiểu rằng Luật thương mại được áp dụng để điều chỉnh hoạt động thương mại, tuy nhiên hoạt động thương mại không chỉ được điều chỉnh bằng Luật thương mại, mà còn có thể được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan khác trong đó có Bộ luật dân sự. Điều này cũng được thể hiện rõ tại Điều 4 Luật thương mại 2005. Theo ý kiến của chúng tôi, hợp đồng được ký kết giữa một bên không nhằm mục đích kiếm lời với thương nhân chuyên nghiệp là một là một quan hệ dân sự theo cách phân chia Luật dân sự và Luật thương mại ở Việt Nam chúng ta. Theo quy định của khoản 3 Điều 1 Luật thương mại, Luật thương mại được áp dụng ngay cả khi bên tham gia hợp đồng không vì mục đích sinh lời  yêu cầu áp dụng nó. Thế thì một câu hỏi nữa có thể được đặt ra, nếu cũng trong hợp đồng đó bên tham gia không vì mục đích kiếm lời lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó thì liệu pháp luật có chấp nhận sự lựa chọn đó hay không. Tất nhiên là không. Trong hợp đồng giữa một bên là thương nhân với một bên khác không phải là thương nhân nếu có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài đó bị coi là vô hiệu theo quy định của khoản 1 Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài thương mại và tranh chấp phát sinh từ những hợp đồng nói trên không thuộc thẩm quyền của trọng tài.
5. Kết luận: Từ những phân tích trên đây, theo quan điểm của chúng tôi, quy định tại Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005 thực sự không cần thiết, hơn thế nữa quy định đó tạo ra sự không công bằng giữa chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp và chủ thể không phải là thương nhân trong quan hệ hợp đồng. Cũng có thể sửa đổi quy định này với nội dung như sau: Luật thương mại có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ giữa một bên là thương nhân chuyên nghiệp với một bên tham gia quan hệ không nhằm mục đích sinh lợi trong trường hợp Tòa án cho là cần thiết để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên tham gia hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi.
Để đảm bảo sự thống nhất giữa các quy định trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại cũng như các văn bản pháp luật liên quan thì trong quá trình dự thảo “cần thiết phải có một người (ý nói một tổ chức nào đó) làm nhiệm vụ như người cầm lái, hướng những người được giao nhiệm vụ dự thảo văn bản pháp luật phải đi theo một hướng định sẵn, có căn cứ khoa học” .
Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, qua đó chúng tôi muốn bày tỏ sự lo lắng của mình cho những kẻ yếu hơn, ít kinh nghiệm hơn trong quan hệ hợp đồng với đối tác có kinh nghiệm hơn, chuyên nghiệp hơn.

BÌNH LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014

 BÌNH LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014

PGS-TS Dương Anh Sơn, ĐH Kinh tế-Luật, ĐHQG Tp. HCM
TS. Trần Thanh Hương, Luật sư

Trước và tại thời điểm ban hành, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN năm 2014)  được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều thay đổi tích cực trong việc thúc đẩy, phát triển quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức. Quyền tự do kinh doanh là quyền hiến định, là một trong những quyền tự do cơ bản của con người, của công dân. Từ nội hàm vốn có của tự do và theo ngôn ngữ pháp luật, có thể coi quyền tự do kinh doanh là khả năng của cá nhân, tổ chức được thực hiện những hành vi pháp luật không cấm phù hợp với nhu cầu và lựa chọn của mình để tìm kiếm lợi ích thông qua các giao dịch trong hoạt động kinh tế. Về nguyên tắc, pháp luật cấm hoặc giới hạn một hay một số hành vi nào đó của cá nhân, tổ chức là nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể khác như Nhà nước, xã hội hay bên thứ ba trong mối quan hệ Nhà nước - cá nhân và tổ chức kinh doanh. Cũng có những hành vi pháp luật không cấm trực tiếp nhưng cá nhân, tổ chức không được thực hiện nếu hành vi đó xâm hại đến lợi ích của chủ thể khác mà Nhà nước đang bảo vệ. Chúng tôi cho rằng, các quy định của LDN năm 2014 cần phải được xây dựng trên nguyên tắc và nội dung nêu trên của quyền tự do và quyền tự do kinh doanh sao cho tự do kinh doanh thực sự là giá trị của nền kinh tế thị trường và được thể hiện ở mức cao nhất mà Nhà nước có thể đảm bảo cho các chủ thể.
 Quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức có nội dung rộng, phong phú và thể hiện ở nhiều hoạt động đa dạng của cá nhân và tổ chức: tự do thành lập (hay không thành lập) và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp; tự do lựa chọn mô hình, phương thức quản trị hay lựa chọn, điều chỉnh quy mô doanh nghiệp phù hợp phục vụ hoạt động kinh doanh; tự do tìm kiếm lợi ích trong những lĩnh vực, ngành nghề pháp luật không cấm; tự do ký kết, thực hiện hợp đồng; tự do quyết định địa bàn/ thị trường hoạt động; tự do lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp… Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đưa các tác giả đua ra một sốvài bình luận về một số điều khoản của LDN năm 2014liên quan đến quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức.
1. Quyền tự do kinh doanh trước hết thể hiện ở quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp của cá nhân và tổ chức
Theo quy định tại Khoản khoản 19 Điều 4 LDN năm 2014 thì , nNgười thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp. Như vậy theo quy định này thì người thành lập doanh nghiệp được chia thành hai dạng: i) cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện các giao dịch phục vụ cho việc thành lập doanh nghiệp (và đương nhiên là có góp vốn); ), và ii) cá nhân, tổ chức không tham gia vào quá trình thành lập doanh nghiệp mà chỉ góp vốn để thành lập doanh nghiệp. Theo quy định tại Khoản khoản 2 Điều 4 LDN năm 2014, Cổ cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. TVà theo quy định của Khoản khoản 2, Điều 119 LDN năm 2014 thì các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Vấn đề chưa rõ ràng ở đây là người góp vốn để thành lập doanh nghiệp là cổ đông sáng lập hay chỉ là những người mua (đăng ký mua) 80% còn lại của vốn điều lệ? Thiết nghĩ người tham gia góp vốn để thành lập doanh nghiệp không nhất thiết phải là cổ đông sáng lập của công ty cô cổ phần. Xét từ góc độ này thì người góp vốn thành lập doanh nghiệp (không tham gia quản lý doanh nghiệp) và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh xét về bản chất là giống nhau. Trong cả hai trường hợp chủ thể có thể không tham gia quản lý doanh nghiệp mà chỉ được hưởng lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp, cổ phần được mua hoặc góp. Nếu có thì sự khác nhau giữa hai trường hợp này chỉ là ở chỗ, theo quy định tại Khoản khoản 1 và Khoản khoản 2 Điều 111 LDN năm 2014, có thể hiểu rằng, người tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp là người đăng ký mua một phần vốn Điều lệ của công ty và phải thanh toán và phải thanh toán trong vòng 90 ngày kể tử từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trong khi đó, những người mua phần vốn góp khác theo quy định tại Khoản khoản 3 Điều 18 LDN năm 2014 có thể là đăng ký mua phần vốn góp (cổ phần) sau khi đã có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Có thể nhận thấy hai hành vi nói trên không có sự khác biệt về bản chất., Ttuy nhiên, LDN năm 2014 quy định khác nhau về vấn đề này. Cụ thể, theo quy định tại Khoản khoản 2, Điều 18 LDN năm 2014 thì: i) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; ii) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; iii) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước; iv) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; v) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng không có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp. Trong khi đó từ quy định tại Khoản khoản 3 Điều 18, có thể hiểu là một số đối tượng bị hạn chế quyền tại Khoản khoản 2, Điều 18 trong đó có( người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù) hoàn toàn có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Như vậy, quy định của pháp luật về những vấn đề này đã thiếu sự nhất quán khi điều chỉnh những hành vi có chung bản chất.
 Khó có câu trả lời và khó lý giải một cách thuyết phục việc pháp luật cấm hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp của các đối tượng đã nêu nếu như vấn đề được phân tích ở các giác độ chính trị - xã hội và kinh tế - xã hội.
(i) Dưới giác độ chính trị - xã hội:
- Sự thiếu nhất quán của LDN năm 2014 về quyền thành lập doanh nghiệp và góp vốn khiến chúng ta phải suy nghĩ về vấn đề quan trọng hơn, đó là xác định quyền lợi của ai bị xâm hại khi các chủ thể nhất định (ví dụ các chủ thể không được thành lập doanh nghiệp quy định tại điểm b, c, đ, e trong Khoản khoản 2 Điều 18) góp vốn thành lập doanh nghiệp với giả thiết họ không tham gia quản lý doanh nghiệp? Lấy đối tượng là những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang chấp hành hình phạt tù là điển hìnhm ví dụ. Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự thì người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự là bị can hoặc bị cáo. Nguyên tắc suy đoán vô tội xác định khi chưa có bản án của tòa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì bị can, bị cáo (người bị truy cứu trách nhiệm hình sự) chưa bị coi là người có tội. Do đó, LDN năm 2014 cấm đối tượng này góp vốn thành lập doanh nghiệp nghĩa là hạn chế quyền tự do kinh doanh của họ một cách không cần thiết. Cho dù chuyện so sánh có thể còn nên bàn thêmChưa tính đến chuyện hợp lý hay không, nhưng liên quan đến vấn đề này LDN năm 2014 còn tỏ ra lạc hậu so với Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân nhân dân 2015năm 2015. T, theo đó. người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn được ghi tên vào danh sách cử tri. . Pháp luật bầu cử đã thể hiện rõ ràng quan điểm không cần thiết phải tước đi quyền bỏ phiếu của những đối tượng này.
Ngoài ra, một vấn đề còn thiếu hợp lý là quyền thành lập doanh nghiệp của người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, người được miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự hoặc những cá nhân phạm tội nhưng chịu hình phạt khác ngoài hình phạt tù. Những người này không là đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (vì đã có bản án của tòa Tòa án) và cũng không đang chấp hành hình phạt tù. Nếu Điểm điểm e Khoản khoản 2 Điều 18 của LDN năm 2014 được hiểu là những đối tượng này có quyền không những góp vốn thành lập mà còn làm các thủ tục thành lập doanh nghiệp và tham gia quản lý doanh nghiệp thì đây cũng là điều khó giải thích, chưa thực sự công bằng đối với với những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp nêu trên.
(ii) Dưới giác độ kinh tế - xã hội:
Tạm cho rằng, do những yêu cầu về quản trị doanh nghiệp, những người đang chấp hành hình phạt tù bị cấm thành lập đồng thời quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự cần thiết phải cấm những người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp lại là vấn đề cần xem xét. Việc họ đang cChấp hành hình phạt tù là việc họ cá nhân đang bị tước một số quyền tự do và đang được giáo dục, cải tạo để trở thành công dân tốt sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt. Nếu như những người này có tài sản và họ muốn góp vốn (không tham gia quản lý doanh nghiệp) cùng với những người khác để thành lập doanh nghiệp thì đó là điều đáng khuyến khích, bởi lẽ: i) việc góp vốn có thể sẽ mang lại lợi tức để đảm bảo cuộc sống cho họ sau khi chấp hành xong hình phạt, góp phần tháo gỡ gánh nặng cho xã hội; ii) việc những người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp làm tăng tiềm lực đầu tư của toàn xã hội; iii) việc những người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp cũng như mua lại phần vốn góp hoặc mua cổ phần (trong điều kiện không tham gia quản lý doanh nghiệp) không có khả năng gây thiệt hại cho người khác, cho Nhà nước và xã hội; iv) quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp của họ về bản chất cũng có hiệu ứng như việc họ đang có phần vốn góp, đang là cổ đông trong các doanh nghiệp hiện hữu (không bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành trừ khi hành vi phạm tội của họ liên quan phần vốn góp, tài sản mà họ đang sở hữu).
Vì những lý do trên, việc LDN năm 2014 đang cấm một số đối tượng trong đó có người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp (không tham gia quản lý doanh nghiệp và cũng không phải là cổ đông hoặc thành viên sáng lập) là thiếu thuyết phục và hạn chế không cần thiết quyền tự do kinh doanh của những chủ thể này. Không những thế, mà sự hạn chế nói trên còn ngăn cản khả năng đầu tư chính đáng của những người này, và điều này dẫn đếngây ra sự lãng phí nguồn lực của xã hội.
Ngoài ra, có lẽ để tránh việc chủ thể thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp là đối tượng không có quyền thành lập doanh nghiệp, Khoản khoản 2 Điều 18 LDN năm 2014 có đưa ra quy định mới là trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Đúng là tTheo quy định pháp luật về lý lịch tư pháp thì hiện tại mẫu Lý lịch tư pháp số 2 có sẽ thể hiện thông tin về chức vụ bị cấm đảm nhiệm, cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, bất cập của quy định này thể hiện ở góc độ khác. Cách thể hiện quy định theo kiểu “trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu…” chứng tỏ sự lúng túng của nhà làm luật khi trao quyền không rõ ràng cho cơ quan đăng ký kinh doanh, sẽ làm cá nhân, tổ chức khó lường trước lúc nào cần hay không cần nộp Lý lịch tư pháp khi thành lập doanh nghiệp. Cho dù việc yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong thực tế thường chỉ thực hiện với cá nhân đăng ký kinh doanh là người nước ngoài, nghĩa là quy địnhViệc việc nộp Phiếu lý lịch tư pháp không phải là yêu cầu bắt buộc trong mọi trường hợp. Thế nhưng LDN năm 2014 lại, thì việc cho phép cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu người đăng ký thành lập doanh nghiệp nộp Phiếu lý lịch tư pháp (không kèm theo bất cứ quy định nào về căn cứ) thể hiện bước thụt lùi so với LDN năm 2005. Chúng tôi cho rằng, nên thể hiện lại quy định này để tránh sự tùy tiện của cơ quan đăng ký kinh doanh, hoặc tốt nhất là hình thành cơ sở dữ liệu thông tin được chia sẻ giữa cơ quan đăng ký doanh nghiệp và cơ quan tư pháp để cơ quan đăng ký kinh doanh nghiệp tự kiểm soát trường hợp hạn chế thành lập và quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra, cũng nên cân nhắc cách khác là buộc cá nhân cam kết không thuộc trường hợp không được thành lập doanh nghiệp (theo nguyên tắc, họ biết hoặc buộc phải biết về quyền thành lập doanh nghiệp của mình) và có chế tài tương xứng trong pháp luật cho hành vi vi phạm. Đối với thông tin cá nhân người nước ngoài, có thể hình thành cơ chế chuyên biệt hơn.
2. Quyền tự do kinh doanh thể hiện ở quyền lựa chọn hình thức kinh doanh
Theo quy định tại Khoản khoản 3 Điều 17 LDN năm 2014, một trong các hành vi bị cấm là  “kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”. Việc cấm tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là vấn đề có thể lý giải được về tính hợp lý, bởi lẽ việc bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức kinh doanh đã tồn tại. Tuy nhiên, quy định “cấm hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký” lại là vấn đề cần xem xét.
Theo nguyên tắc, cá nhân có quyền tự do hành động vì lợi ích của họ và giới hạn của quyền này là không được xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người thứ ba. Điều này có nghĩa là khi pháp luật cấm kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký thì pháp luật phải chỉ rõ, hành vi này gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội hoặc của người thứ ba. Tuy nhiên, theo chúng tôi thấy rằng, việc kinh doanh không đăng ký không xâm hại đến quyền lợi của Nhà nước, của xã hội và của bất kỳ chủ thể nào khác. Không những thế, việc pháp luật thừa nhận hành vi này sẽ tạo cơ hội cho cá nhân tận dụng được cơ hội kinh doanh của họ và đương nhiên khi cá nhân tận dụng được cơ hội kinh doanh của họ thì sẽ phát sinh thu nhập và Nhà nước sẽ là người chủ thể được hưởng lợi vì thu được thuế thu nhập cá nhân.
Chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đã có các công cụ quản lý hoạt động thương mại (công cụ chủ yếu là các loại luật về Thuếthuế như- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp  2008  và Luật Thuế Thu thu nhập cá nhân  2007 ) thì cần có cách nhìn cởi mở hơn trong vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp. Đã đến lúc pháp luật nên để cá nhận tự lựa chọn một trong hại hai hình thức: kinh doanh có đăng ký và kinh doanh không đăng ký, và nên coi đăng ký doanh nghiệp là xuất phát từ nhu cầu của cá nhân, bởi lẽ:
Thứ nhất, việc kinh doanh chưa đăng ký sẽ làm thương nhân không tận dụng được một số thế lợi khi thực hiện các loại thủ tục với cơ quan nhà nước (thực hiện các nghĩa vụ thuế phải theo cơ chế chuyên biệt hơn các hình thức thông thường khác) cũng như đối tác và các chủ thể khác trong xã hội.
Thứ hai, nếu kinh doanh có đăng ký doanh nghiệp thì thông tin về doanh nghiệp sẽ được công bố trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cũng là cơ hội để doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, và thông tin về mình và việc công bố trên Cổng thông tin quốc gia được coi là tuyên bố gửi đến cho các khách hàng và đối tác trong tương lai rằng, họ đã gia nhập thị trường . Trong trường hợp kinh doanh không đăng ký thì họ được rất ít người biết đến.
Thứ ba, kinh doanh có đăng ký doanh nghiệp thì nghĩa vụ thuế được thực hiện theo quy định về thuế doanh nghiệp với thuế suất (thu nhập doanh nghiệp) xác định.  T, trong khi đó, cá nhân kinh doanh không đăng ký doanh nghiệp thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo Biểu thuế lũy tiến từng phần . Do đó, đối tượng này có và đương nhiên khả năng phải đóng thuế nhiều hơn so với kinh doanh có đăng ký doanh nghiệp. Với ý nghĩa này thì đăng ký thành lập doanh nghiệp là quyền nhiều hơn nghĩa vụ. Một khi việc đăng ký thành lập doanh nghiệp là quyền thì chủ thể của quyền sẽ tự nguyện thực hiện và nên để chủ thể quyền tự nguyện thực hiện theo lựa chọn của mình.
Ngoài những lý do nói trên, chúng ta có thể thấy rằng, thương nhân thực tế từ lâu đã được pháp luật của nhiều nước thừa nhận và cũng đã được thừa nhận ở Việt Nam dưới thời chính quyền cũ trước năm 1975 (Tòa Thượng thẩm Huế ngày 25/ tháng 5/ năm 1960 đã thừa nhận trách nhiệm dân sự hội viên của hội thực tế).  . Ở Việt Nam, thương nhân thực tế không những được đề cập đến trong khoa học pháp lý  mà còn được pháp luật quy định tuy chỉ ở mức gián tiếp. MThật vậy, mặc dù Khoản khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh,. T và theo quy định tại Điều 7,  Luật Thương mại năm 2005, thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo qui quy định của pháp luật. T, tuy nhiên, pháp luật để ngỏ vấn đề, theo đó “trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo qui quy định của Luật này và qui quy định khác của pháp luật”. Như vậy quy định này có nghĩa là, thương nhân vẫn tồn tại trong tình trạng chưa đăng ký kinh doanh và đó chính là biểu hiện của thương nhân thực tế. Vấn đề không thỏa đáng ở chỗ, chưa đăng ký kinh doanh vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động theo quy định của pháp luật như là thương nhân, nhưng lại không thừa nhận quyền của họ với tư cách là thương nhân. 
Ngoài ra, việc thừa nhận thương nhân thực tế là phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là phù hợp với thực tiễn hiện nay khi kinh tế thế giới chuyển động nhanh hơn và hoạt động thương mại ngày càng trở nên linh hoạt,  và phong phú hơn. Như vậy, việc thừa nhận thương nhân thực tế sẽ gia tăng khả năng cho các cá nhân nắm bắt được cơ hội kinh doanh và mở rộng quyền tự do kinh doanh của họ. Khi LDN năm 2014 chưa thể hiện được vấn đề này thì đó không chỉ là sự thiếu thống nhất giữa quy định của  luật doanh nghiệp với quy định của luật thương mại mà còn là thiếu quy định cần thiết cho vấn đề nêu trên.
Tóm lại, pháp luật nên chăng cởi mở hơn về vấn đề đăng ký doanh nghiệp khi coi nó là quyền của cá nhân, tổ chức và. Thiết nghĩ, pháp luật  nên thừa nhận thương nhân thực tế theo hướng để cá nhân được lựa chọn giữa kinh doanh có đăng ký doanh nghiệp và không đăng ký doanh nghiệp tùy thuộc vào nhu cầu và sự tính toán của họ trong việc hưởng các lợi ích và thực hiện các nghĩa vụ với các chủ thể khác trong đó có nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Hơn thế nữa, việc thừa nhận này chắc chắn sẽ làm gia tăng chất lượng quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong xã hội. . 
3. Quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức được thể hiện trong việc thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước.
Có thể nhận thấy rằng, việc LDN năm 2014 không còn bắt buộc doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp  cũng như không bắt buộc phải ghi ngành nghề kinh doanh trong chứng nhận thành lập doanh nghiệp  được coi là bước tiến quan trọng trong việc tôn trọng và nhằm mở rộng quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ một số quy định liên quan của LDN năm 2014 có thể nhận thấy rằng, về bản chất thủ tục đăng ký doanh nghiệp vẫn không cóchưa được cải thiện đáng kể. Thật vậy, Điều 24 LDN năm 2014 vẫn quy định việc khai báo ngành, nghề kinh doanh trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp. ,  Điểm a, Khoản khoản 1 Điều 32 LDN năm 2014 quy định khi thay đổi ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Vấn đề đặt ra là nếu pháp luật thực sự không bắt buộc doanh nghiệp phải hoạt động theo đúng ngành nghề đăng ký thì quy định về nghĩa vụ khai báo và thông  báo thay đổi nói trên là có thực sự cần thiết hay không? Phải chăng ý đồ của các nhà làm luật là vẫn gắn hoạt động của doanh nghiệp với ngành nghề kinh doanh đã được đăng ký? Giả thiết này có vẻ có cơ sở khi Khoản khoản 4 Điều 17 cấm kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Rõ ràng, pháp luật quy định nghĩa vụ thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi ngành nghề kinh doanh. Không thông báo về thay đổi này được coi là vi phạm pháp luật và hay cũng có thể được coi là kê khai không trung thực, không chính xác và có thể bị coi là vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Khoản khoản 4 Điều 17 LDN năm 2014. Từ đó suy ra rằng, kinh doanh trong ngành nghề chưa đăng ký, thông báo là hành vi vi phạm pháp luật.
Như vậy có thể cho thấy rằng pháp luật vẫn bắt buộc doanh nghiệp hoạt động theo đúng ngành nghề đã đăng ký. Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã quen với cách ứng xử là gắn hoạt động của doanh nghiệp với ngành nghề kinh doanh đã được đăng ký. Đ và đây được coi là thói quen pháp lý, mà đã là thói quen thì khó từ bỏ. . Suy nghĩ này dường như đã đi vào tâm niệm của họ và được củng cố, đặc biệt là khi nó được hậu thuẫn bởi Nghị quyết số 04/2003  của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao về hợp đồng vô hiệu trong trường hợp doanh nghiệp ký kết hợp đồng trong lĩnh vực ngành nghề chưa đăng ký (cho đến nay những hướng dẫn này chưa bị phủ nhận chính thứcbãi bỏ). Thiết nghĩ với cách quy định không rõ và còn bất nhất giữa chủ trương ban đầu về “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, “không bắt buộc doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp”… vớià những quy định, yêu cầu tiếp theo của LDN năm 2014 và các văn bản pháp luật khác như đã đề cập ở trên về nghĩa vụ đăng ký, và thông báo của doanh nghiệp thì rõ ràng  quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức đã bị hạn chế một cách thiếu thuyết phục. 
Xét về bản chất, liệu việc phải ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy đăng ký doanh nghiệp có kém quan trọng hơn bắt buộc doanh nghiệp phải hoạt động theo đúng ngành nghề đăng ký hay không. ? Thiết nghĩ đã đến lúc pháp luật Việt Nam nên coi việc đăng ký ngành nghề kinh doanh có ý nghĩa là sự tuyên bố tham gia thị trường với ngành nghề, lĩnh vực nhất định (thông tin về ngành nghề kinh doanh cũng được đưa lên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp) của doanh nghiệp hơn là có ý nghĩa phục vụ nhu cầu quản lý của Nhà nước. Với cách tiếp cận vấn đề như vậy, việc đăng ký ngành nghề kinh doanh xuất phát lợi ích và nhu cầu của chính doanh nghiệp và sẽ không còn là hành vi bị ép buộc nữa.
Ngoài ra, không loại trừ những trường hợp doanh nghiệp mong muốn ngành nghề kinh doanh được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mong muốn trên xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, trong đó có nhu cầu làm an tâm đối tác và giới thiệu thế mạnh của doanh nghiệp. Vậy nhu cầu này có thể được đáp ứng hay không? Với cách xử lý về mặt kỹ thuật về chế độ hiển thị ngành nghề kinh doanh hiện tại, đó là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ có 4 nội dung (theo quy định tại Điều 29 LDN năm 2014) và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được làm theo mẫu thống nhất thì cho dù nhu cầu này là chính đáng và không xâm hại lợi ích của ai thì nó cũng khó có thể được đáp ứng. Quyền tự do kinh doanh lại một lần nữa bị đặt nằm trong khuôn khổ và sự hạn chế không cần thiết.
Một vấn đề nữa là vẫn theo Điều 29 LDN năm 2014 thì ngành nghề kinh doanh có điều kiện cũng không được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chúng tôi cho rằng, việc không ghi ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có thể không gây thiệt hại, không xâm hại quyền tự do kinh doanh của chính doanh nghiệp, của chính cá nhân kinh doanh nhưng có thể xâm hại đến quyền lợi của các chủ thể khác. Nếu không ghi ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp khác có thể sẽ gặp phải nhiều rủi ro bởi lẽ họ không thể biết đối tác của họ có đủ điều kiện để kinh doanh ngành nghề đó hay không, và để tìm hiểu, xác định điều đó thì doanh nghiệp không những phải bỏ thêm chi phí, thời gian mà còn có thể mất cơ hội kinh doanh.
4. Quyền tự do kinh doanh phải được xác định là quyền tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động, giao dịch mà pháp luật không cấm
Liên quan đến vấn đề này, nên bàn về sự cần thiết phải đưa vào Luật Doanh nghiệp quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp như thể hiện ở Điều 7, Điều 8.
Ở cấp độ chung và cao nhất, quyền “Tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” tại Điều 7 LDN 2014 chính là quyền hiến định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013. Về nguyên tắc, sau Hiến pháp, LDN năm 2014 chỉ cần cụ thể hóa quyền và xác định phương thức cũng như giới hạn của việc thực hiện quyền, còn những ghi nhận mang tính chất “tuyên bố” chung về quyền vốn dĩ đã nằm ở trong văn bản pháp luật có giá trị cao hơn là Hiến pháp. Tinh thần của đạo luật gốc khi xác định quyền của tổ chức, cá nhân là làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm và những cấm đoán hay hạn chế quyền phải xuất phát từ lý do bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội của người thứ ba và được thể hiện bằng pháp luật. Vì thế, việc nhắc lại quyền của doanh nghiệp là “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” chưa hẳn tăng thêm chất lượng của quyền tự do kinh doanh hiến định.
Ở cấp độ cụ thể của quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp, việc liệt kê quyền và nghĩa vụ như Điều 7, Điều 8 LDN năm 2014 sẽ tạo ra một số bất cập.  Thứ nhất, những quyền liệt kê là những quyền mặc nhiên của doanh nghiệp, cho dù không liệt kê thì doanh nghiệp cũng có những quyền đó nên việc liệt kê không có nhiều ý nghĩa (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản là quyền đương nhiên của doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu tài sản, quyền ký kết hợp đồng cũng trong logic tương tự khi tự do thỏa thuận là quyền mặc nhiên của của doanh nghiệp và tất cả các quyền này chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Thứ hai, liệt kê thường không triệt để dẫn đến khả năng bị hiểu là quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị giới hạn trong nội dung được liệt kê và doanh nghiệp chỉ có những quyền, nghĩa vụ đó. Có lẽ, để tránh việc hiểu như vậy mà Khoản khoản 12 Điều 7 LDN năm 2014 quy định ngoài các quyền được liệt kê, doanh nghiệp còn có “quyền khác theo quy định của luật có liên quan”. Tuy nhiên, quy định này tự nó lại làm giảm ý nghĩa của việc liệt kê và cũng triệt tiêu tinh thần “có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm” của doanh nghiệp, gián tiếp khẳng định doanh nghiệp chỉ được làm gì mà luật cho phép và luật cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hưởng quyền chứ không phải pháp luật tạo khuôn khổ cho quyền tự do kinh doanh.
Việc liệt kê quyền và nghĩa vụ như thể hiện ở Điều 7, Điều 8 chưa chắc đã làm doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách dễ dàng. Những rủi ro này có thể xuất phát từ thói quen áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước. Theo nguyên tắc chung, cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép và cách tư duy pháp lý này trái ngược với lối tư duy pháp lý áp dụng cho cá nhân, tổ chức khác. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, có nhiều trường hợp, vì quá quen với lối tư duy cho mình, cán bộ, công chức đã áp đặt lối tư duy đó cho cá nhân, tổ chức khác. Không ít trường hợp cá nhân không thể thực hiện được quyền của họ chỉ vì lý do không có quy định của pháp luật. .
Kết luận: Vì mới có hiệu lực từ ngày 01/ tháng 7/ năm 2015 nên hiệu quả thực chất của việc áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2014 trong thực tế chưa được kiểm chứng. Tuy nhiên, vẫn có thể  nhận thấy nhiều điểm chưa rõ ràng và phù hợp về lý luận cũng như thực tiễn khi xem xét các quy định của luật này dưới góc độ quyền tự do kinh doanh. Cho dù việc hiện thực hóa những tư tưởng cải cách nào đó cần không ít thời gian, chúng tôi vẫn đề xuất rằng, để quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức được thể hiện trong phạm vi hợp lý hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, pháp luật doanh nghiệp nói chung, LDN năm 2014 nói riêng cần thiết điều chỉnh theo hướng: i) tách bạch quyền thành lập doanh nghiệp và quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp, khoản 19 Điều 4 nên quy định “người thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân thực hiện mọi thủ tục để thành lập doanh nghiệp”; ii) không nên cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp; iii) không nên trao cho cơ quan đăng ký kinh doanh quyền yêu cầu cá nhân nộp Lý lịch tư pháp khi đăng ký doanh nghiệp; iv) thừa nhận thương nhân thực tế; v) không nên gắn hoạt động của doanh nghiệp với ngành nghề được đăng ký đối với ngành nghề kinh doanh không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cụ thể khoản 3 Điều 24 và Điểm điểm a Khoản khoản 1 Điều 32 LDN năm 2014 chỉ áp dụng đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện; vi) không cần thiết phải quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp như cách thể hiện ở Điều 7, Điều 8 LDN năm 2014.


MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHẠT VI PHẠM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHẠT VI PHẠM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Posted on February 10, 2008 by civillawinfor
TS. DƯƠNG ANH SƠN – TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ
Khoa luật ĐHQG TP. HCM - ĐH Luật TP.HCM
Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện hành đã nảy sinh những bất cập. Nhiều quy định của pháp luật về hợp đồng trong đó có các quy định về phạt vi phạm đã không còn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự, thương mại trong cơ chế thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi muốn đi sâu vào việc phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về phạt vi phạm và qua đó có một số ý kiến đóng góp cho việc xây dựng chế định phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại sửa đổi.
1. Chức năng của phạt vi phạm.
Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ hợp đồng trong hoạt động dân sự và thương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp đồng cũng rơi vào tình trạng chung là thiếu thống nhất trong điều chỉnh bằng pháp luật. Hiện ở Việt Nam có ba văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng, đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Bộ luật dân sự và Luật thương mại. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế tuy được xem là văn bản pháp luật lỗi thời và có nhiều bất cập nhất hiện nay nhưng lại là một trong những văn bản pháp luật có ảnh hưởng lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng và quá trình lập pháp về hợp đồng. Vấn đề phạt vi phạm đã chưa được thể hiện rõ và nhất quán trong pháp luật Việt Nam.
Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 29). Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại. Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng kinh tế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng kinh tế 1.
Trong Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được nói đến chủ yếu với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, còn trong Luật thương mại nó được coi là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng. Xuất phát từ các quy định nói trên của pháp luật mà nhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Quan điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh tế phi thị trường, kế hoạch hoá. Bởi vì khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, thương mại chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được xem là kỷ luật của Nhà nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường thì mục đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác. Vì vậy, cách hiểu trên trở nên không thích hợp.
Phạt vi phạm, theo quan điểm của chúng tôi, thực hiện hai chức năng: thứ nhất, phạt vi phạm được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ, điều này được khẳng định bởi phạt vi phạm được quy định trong chương các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ2, mặt khác phạt vi phạm thúc đẩy các bên chú ý đến việc thực hiện nghĩa vụ dưới sự đe dọa phải chịu hậu quả bất lợi do không thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm. Hai chức năng này của phạt vi phạm cũng được thể hiện trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới.
Phạt vi phạm hợp đồng có thể được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận tại hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Vậy đâu là sự khác biệt giữa hai chức năng của phạt vi phạm trong hai trường hợp nói trên?
Đối với trường hợp phạt vi phạm theo hợp đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mục đích thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên trong trường hợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức của trách nhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉ thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại.
Phạt vi phạm do pháp luật quy định, theo quan điểm của một số tác giả3, không thể thực hiện chức năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bởi vì phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia vào quan hệ nghĩa vụ đó với mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ nói trên. Quan điểm này theo chúng tôi là thiếu thuyết phục bởi những lý do sau đây: thứ nhất, phạt vi phạm được quy định ngay trong phần các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của pháp luật nhiều nước; thứ hai, mặc dù phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia quan hệ nghĩa vụ đó nhưng khi ký kết hợp đồng các bên không thể không biết quy định của pháp luật về điều đó.
Với tư cách là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong khoa học pháp lý Việt Nam có quan điểm cho rằng có thiệt hại xảy ra hay không không phải là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm 4, điều này có nghĩa là phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra. Về vấn đề này theo chúng tôi cần phải xác định rõ, chế tài phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra hay có thiệt hại xảy ra là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng song trong một số trường hợp không cần phải xác định mức độ thiệt hại.
Muốn giải quyết được vấn đề này chúng ta cần phải xác định rõ, phạt vi phạm với tư cách là một hình thức của trách nhiệm, mang tính trừng phạt hay là mang tính đền bù. Nếu cho rằng phạt vi phạm có tính trừng phạt thì rõ ràng nó sẽ được áp dụng ngay cả khi hành vi vi phạm hợp đồng không gây ra thiệt hại, còn nếu phạt vi phạm mang tính đền bù thì nó chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm hợp đồng có gây ra thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, phạt vi phạm là một trong hai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt mà chỉ có chức năng đền bù. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm5. Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng họ đã vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng và tất nhiên toà án sẽ không ra phán quyết thoả mãn yêu cầu của họ. Bởi vì trong mọi trường hợp toà án có nghĩa vụ phải ra phán quyết không những đúng pháp luật mà còn phải công bằng.
Như vậy có thể nói rằng mục đích của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hoàn toàn giống với mục đích của việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Một câu hỏi có thể được đặt ra là, nếu mục đích của phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đều là khôi phục quyền lợi vật chất của bên bị vi phạm thì đâu là sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chứng minh có thiệt hại và mức độ thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra là vấn đề không đơn giản và mất nhiều thời gian. Bởi vậy, việc áp dụng phạt vi phạm như là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có những ưu điểm sau:
- Thứ nhất, là công cụ thuận tiện để đền bù những tổn thất, mất mát của người có quyền do hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra;
- Thứ hai, cho phép thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng. Chỉ cần có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm này không phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm do các bên thoả thuận là người bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thỏa thuận;
- Thứ ba, khi sử dụng hình thức bồi thường thiệt hại, bên có quyền không những cần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, mà còn phải chứng minh được rằng họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại. Điều này gây cho bên bị vi phạm rất nhiều điều bất lợi và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến việc bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm, bởi vì do những lý do nào đó họ không thể chứng minh một cách đầy đủ những thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Còn khi sử dụng biện pháp phạt vi phạm thì bên vi phạm phải chứng minh những sự kiện nói trên nếu họ không muốn chịu trách nhiệm;
- Thứ tư, tránh được những chi phí phát sinh trong quá trình chứng minh thiệt hại, mức độ của thiệt hại. Rõ ràng, việc chứng minh mức độ thiệt hại không phải là việc dễ dàng trong thực tế, bên bị thiệt hại trong nhiều trường hợp phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người khác và chi phí này cũng được coi là thiệt hại thực tế và bên vi phạm phải gánh chịu.
2. Căn cứ áp dụng phạt vi phạm
Xuất phát từ quan điểm cho rằng việc trả tiền phạt vi phạm được coi là sự trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên trong khoa học pháp lý Việt Nam không có quan điểm thống nhất về căn cứ áp dụng phạt vi phạm. Trong Pháp luật thực định, căn cứ để áp dụng phạt vi phạm được quy định không thống nhất. Bộ luật dân sự không trực tiếp quy định căn cứ để áp dụng phạt vi phạm, song một cách gián tiếp có thể hiểu thông qua Điều 379 của Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được xem là một hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và vì vậy căn cứ để áp dụng phạt vi phạm phải tuân theo nguyên tắc chung, đó là giống với căn cứ áp dụng hình thức bồi thường thiệt hại. Luật thương mại Việt Nam quy định căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm là không thực hiện hợp đồng và thực hiện không đúng hợp đồng (Điều 227). Theo quan điểm của một số luật gia6, những quy định này không có nghĩa là đã cho phép áp dụng chế tài phạt hợp đồng đối với mọi hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà không cần xét đến yếu tố lỗi. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Tuy nhiên nếu căn cứ theo Điều 227 Luật thương mại thì có thể hiểu rằng, nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng điều khoản phạt vi phạm thì khi có sự không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, bên có quyền yêu cầu trả tiền phạt ngay cả khi không có lỗi và không có thiệt hại.
Xuất phát từ sự phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi, Dự thảo Luật thương mại sửa đổi bỏ Điều 227 là hợp lý.
3. Mức phạt vi phạm.
Pháp luật của Việt Nam quy định giới hạn tối đa của mức phạt vi phạm, không phụ thuộc vào thoả thuận của các bên (Điều 228 Luật thương mại quy định mức phạt tối đa 8% giá trị nghĩa vụ vi phạt, Điều 378 Bộ luật dân sự lại quy định mức phạt vi phạm không quá 5% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế lại quy định mức phạt vi phạm không quá 12% giá trị của nghĩa vụ bị vi phạm -phụ thuộc vào loại nghĩa vụ bị vi phạm). Theo quy định của các điều luật nói trên, trong trường hợp các bên có thỏa thuận mức phạt vi phạm thì dù thiệt hại có lớn bao nhiêu đi nữa thì bên vi phạm chỉ phải trả tiền tối đa trong giới hạn đó. Như vậy liệu các quy định của pháp luật về giới hạn mức phạt có phù hợp với mục đích của áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hay không.
Pháp luật của những nước, phạt vi phạm được coi là một trong những hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, không quy định giới hạn của mức phạt vi phạm, mà chỉ quy định rằng mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận khi ký kết hợp đồng. Sở dĩ có quy định như vậy bởi vì pháp luật của các nước đó coi chức năng của phạt vi phạm là đền bù những tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu và mức phạt vi phạm cũng phải tương đương với mức độ tổn thất mà các bên nhìn thấy trước tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Chúng tôi cho rằng, việc quy định giới hạn của mức phạt vi phạm làm hạn chế tự do ý chí của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng. Bởi vì, thứ nhất, pháp luật đã quy định, phạt vi phạm là sự thoả thuận của các bên về số tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm; thứ hai, Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự, nếu trong hợp đồng các bên có thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại thì chỉ áp dụng phạt vi phạm mà không áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Theo quy định nói trên thì sẽ như thế nào nếu nếu thiệt hại thực tế lớn hơn rất nhiều so với mức tối đa do pháp luật quy định, ví dụ, 25% hoặc hơn nghĩa vụ bị vi phạm. Có thể có người cho rằng, thế thì tại sao tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên không thoả thuận áp dụng cả hai loại chế tài: phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với lập luận đó và cũng tin rằng, trong thực tiễn ký kết hợp đồng thương mại các bên sẽ thoả thuận áp dụng cả hai biện pháp chế tài nói trên. Nếu trong thực tiễn thương mại các bên sẽ luôn hành động như vậy thì liệu quy định của Điều 378 Bộ luật dân sự, Điều 228 Luật thương mại và quy định tại Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự có thực sự phát huy hiệu quả của mình hay không, có thực sự cần thiết hay không. Chúng tôi cho rằng, để các quy định của pháp luật phát huy được hiệu quả của mình thì chúng phải phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại, vì vậy không nên có sự tồn tại tại các Điều 378 Bộ luật dân sự và Điều 228 Luật thương mại.
Một vấn đề cần phải nói đến khi phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về phạt vi phạm là trong thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại trong rất nhiều trường hợp mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận cao hơn rất nhiều so với thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra hoặc thiệt hại thực tế hầu như không xảy ra thì sẽ giải quyết như thế nào. Nếu buộc bên vi phạm phải trả tiền phạt theo mức thoả thuận thì liệu biện pháp này có phù hợp với nguyên tắc: thiệt hại phải được đền bù kịp thời và đầy đủ hay không? Câu trả lời của chúng tôi là hoàn toàn không. Pháp luật của nhiều nước cho phép Toà án điều chỉnh mức phạt vi phạm khi có yêu cầu của một trong các bên trong trường hợp thiệt hại thực tế do vi phạm là quá thấp so với mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận (Điều 333 Bộ luật dân sự của Cộng hoà liên bang Nga, Mục 2 Điều 1152 BLDS Pháp - được thay đổi bằng luật số 75-597 ngày 9/7/1975, Điều 343 Bộ luật dân sự Đức7). Vì vậy theo quan điểm của chúng tôi, trong Bộ luật dân sự sửa đổi và trong Luật thương mại sửa đổi cần phải có quy định cho phép toà án hạ mức tiền phạt mà các bên thoả thuận theo yêu cầu của bên vi phạm nếu họ chứng minh được rằng, thiệt hại thực tế xảy ra thấp hơn rất nhiều so với mức phạt vi phạm mà các bên đã thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng.
4. Mối quan hệ giữa phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa thấy có sự phân tích một cách kỹ lưỡng mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ. Còn trong pháp luật thì theo quy định của Điều 225 Luật thương mại 1997, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế, bên có quyền không được áp dụng các biện pháp chế tài khác như chế tài huỷ hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Chúng tôi cho rằng khi áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ thì không được áp dụng chế tài huỷ hợp đồng là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Rõ ràng khi đã bắt buộc bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế thì không thể huỷ hợp đồng được. Bởi vì nếu cho phép bên có quyền huỷ hợp đồng khi bên vi phạm đang thực hiện nghĩa vụ của mình thì hậu quả có thể rất lớn. Ví dụ, khi người bán chậm thực hiện nghĩa vụ giao hàng và người mua áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, tức là buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng, như vậy trong thời gian người bán đang thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình thì người mua không thể hủy hợp đồng.
Còn quy định của pháp luật không cho phép bên có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm khi đã áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ, theo quan điểm của chúng tôi là không có cơ sở pháp lý và không phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, bởi vì việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ có thể gây thiệt hại cho bên bị vi phạm. Một câu hỏi có thể được đặt ra, tại sao thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu không được đền bù. Có thể có ý kiến cho rằng, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền lựa  chọn biện pháp chế tài, vậy thì trong trường hợp có thiệt hại bên bị thiệt hại không nên sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ mà sử dụng ngay chế tài bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm. Nếu đồng ý với lập luận này thì sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp, ví dụ, người bán chậm giao hàng cho người mua và việc chậm giao hàng này thực sự có gây thiệt hại cho người mua, do nhu cầu kinh doanh của mình nên người mua buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng và khi đó ai là người phải gánh chịu thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, trong trường hợp áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thì có thể hạn chế được mức độ của thiệt hại. Và cũng theo quan điểm của chúng tôi thì buộc thực hiện đúng nghĩa vụ trong nhiều trường hợp cũng có thể được coi là biện pháp hợp lý nhằm hạn chế thiệt hại. Pháp luật của đa số các nước châu Âu lục địa có quy định khác với pháp luật của Việt Nam. Ví dụ, Khoản 2 Điều 1229 Bộ luật dân sự của Pháp, Điều 341 của Bộ luật dân sự Đức quy định rằng, trong trường hợp các bên thoả thuận phạt vi phạm do chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm khi yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt, được giữ lại quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ. Các quy tắc thống nhất của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) năm 19848 cũng cho phép bên bị vi phạm vừa có quyền yêu cầu bên vi phạm vừa thực hiện đúng nghĩa vụ vừa trả tiền phạt vi phạm trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại.
Từ những phân tích trên đây, theo quan điểm của chúng tôi, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi đã sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bởi những lý do sau đây:
- Thứ nhất, buộc thực hiện đúng nghĩa vụ và phạt vi phạm tuy là hai biện pháp chế tài nhưng chức năng và ý nghĩa của việc áp dụng chúng lại hoàn toàn khác nhau. Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ là việc bắt buộc bên vi phạm phải thực hiện những gì mà họ đã cam kết, còn khi bị buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bên vi phạm hoàn toàn không hề chịu một hậu quả bất lợi nào về vật chất.
- Thứ hai, quy định trên của pháp luật chỉ có thể áp dụng trong trường hợp, ví dụ, khi mà người bán giao hàng không đúng chất lượng và người mua yêu cầu người bán phải thay hàng không đúng chất lượng đó bằng hàng đúng chất lượng và việc thay đổi hàng đó được người bán thực hiện trong thời hạn giao hàng mà các bên đã thoả thuận. Còn nếu người bán thực hiện hành vi đổi hàng sau khi hết thời hạn giao hàng được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì người mua vẫn có quyền đòi tiền phạt. Trong trường hợp hành vi đổi hàng thực hiện trong thời hạn giao hàng nhưng lại kết thúc khi thời hạn giao hàng do các bên thoả thuận đã hết thì người bán vẫn phải trả tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ.
Khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 được sửa đổi bằng Điều 288 dự thảo Luật thương mại sửa đổi lần 8 với nội dung như sau: “… Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên có quyền không được áp dụng những biện pháp chế tài khác, ngoại trừ chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại”. Chúng tôi cho rằng, quy định của Điều 288 trong dự thảo Luật thương mại sửa đổi sẽ là không phù hợp trong những trường hợp bên vi phạm bị áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ khi thời hạn mà họ phải thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng chưa hết.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng nên sửa đổi khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 với nội dung như sau: “Trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ và các bên không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền áp dụng những chế tài khác ngoại trừ chế tài huỷ hợp đồng”.
Chú thích:
1 Xem: Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2003. tr. 329.
2 Có quan điểm cho rằng, biện pháp phạt vi phạm chỉ mang chức năng dự phạt mà hoàn toàn không mang chức năng bảo đảm, chúng ta khó có thể đồng ý với quan điểm này. Xem: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2002. tr. 328.
3 Xem: M.I Braginsky; V.V Vitriansky. Luật hợp đồng. NXB Statut. Matxcơva. 1999. tr. 662.
4 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr. 350
5 Xem: Khoản 2 Điều 330 Bộ luật dân sự Cộng hoà liên bang Nga; khoản 1 Điều 1227 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp.
6 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr.351
7 Ngoại trừ trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân trong hoạt động kinh doanh thương mại - Điều 348 Bộ luật thương mại Đức;
8 Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc. Tổng kết hàng năm. Tập XIV. 1983, UN. New-York, 1985.Mặc dù các Quy tắc này không có hiệu lực, nhưng nó thể hiện được thực tiễn thương mại quốc tế cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của nó.
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2005