Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế chính trị - Lý Luận Chính Trị TC 240. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế chính trị - Lý Luận Chính Trị TC 240. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2025

VĂN HÓA – HỒN CỐT DÂN TỘC VÀ SỨC MẠNH PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI


VĂN HÓA – HỒN CỐT DÂN TỘC VÀ SỨC MẠNH PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Bài viết Nhà báo Đỗ Văn Hiếu – Học Viên lớp TC 240 - Học viện Cán bộ TP.HCM

"Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" – lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ gần một thế kỷ trước vẫn nguyên giá trị định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hôm nay. 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, việc nhận thức đúng và đầy đủ về văn hóa – đặc biệt là hệ giá trị văn hóa Việt Nam – không chỉ là yêu cầu lý luận, mà còn là mệnh lệnh thực tiễn.

Văn hóa dưới nhiều lăng kính: Từ triết học đến thực tiễn

Văn hóa là một khái niệm phong phú, đa chiều, được tiếp cận theo nhiều góc độ:

Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động nghệ thuật – văn học như âm nhạc, hội họa, sân khấu…

Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, thể hiện trong lối sống, tập quán, tư duy và ứng xử xã hội.

Các học thuyết phương Tây nhấn mạnh vai trò lý tính, luật pháp và cá nhân; trong khi phương Đông coi trọng cộng đồng, đạo lý và sự hài hòa. Karl Marx và Friedrich Engels tiếp cận văn hóa từ quan điểm duy vật lịch sử, coi nó là sản phẩm của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội.


Quan niệm văn hóa của phương Tây và phương Đông – Góc nhìn từ sự “gieo trồng”

Trong dòng chảy tư tưởng nhân loại, phương Đông và phương Tây tuy khác biệt về hệ giá trị, nhưng đều gặp nhau ở một điểm chung cốt lõi: văn hóa là hành trình “gieo trồng” con người.

Tư tưởng phương Tây: “Cultus” – Văn hóa là sự trau dồi tâm hồn

Từ gốc Latin "cultus" nghĩa là gieo trồng, chia thành:

Cultus agri: trồng trọt đất đai – liên hệ đến nông nghiệp.

Cultus animi: trồng trọt tâm hồn – dẫn đến khái niệm culture (văn hóa).

Văn hóa, với người phương Tây, là quá trình tu dưỡng nội tâm, phát triển trí tuệ và tinh thần – giống như người nông dân gieo mầm hy vọng trong đất, thì giáo dục – nghệ thuật – tri thức cũng “gieo trồng” những giá trị nhân văn trong con người.

 Tư tưởng phương Đông: Văn hóa gắn với đạo lý, cái đẹp và sự hài hòa

Chữ "文化" (văn hóa) trong Hán ngữ có nghĩa là văn minh hóa con người bằng lễ – nghĩa – trí – tín. Phương Đông nhấn mạnh sự hài hòa giữa con người – cộng đồng – thiên nhiên, giữa vật chất và tinh thần, giữa “văn” và “đức”.

Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết tư tưởng phương Đông bằng một câu nói bất hủ:

Vì lợi ích mười năm trồng cây – Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Văn hóa, theo Bác, là một quá trình lâu dài, bền bỉ, tích lũy và lan tỏa – như trồng người bằng hành vi đạo đức, bằng giáo dục và bằng cách sống có trách nhiệm với cộng đồng.

Đặc biệt, UNESCO năm 1982 định nghĩa: "Văn hóa là tổng thể những đặc trưng tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc đặc sắc của một xã hội..." – nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững và tôn trọng đa dạng nhân loại.

Văn hóa theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên hệ thống hóa khái niệm văn hóa một cách khoa học và sâu sắc. Bác viết:

Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn.”

Bác cũng xác định rõ chức năng dẫn đường của văn hóa, khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn cách mạng thắng lợi, không thể thiếu văn hóa."

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định:

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội.” (Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII, Nghị quyết 33-NQ/TW, Nghị quyết 139/NQ-CP ngày 17/5/2025).

Đặc biệt, trong bài phát biểu quan trọng ngày 18/5/2025 tại Hội nghị quán triệt các nghị quyết 66 và 68, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò của văn hóa như “trụ cột phát triển bền vững” trong “bộ tứ nghị quyết” giúp Việt Nam cất cánh.

Hệ giá trị văn hóa Việt Nam – sức mạnh mềm của dân tộc

Văn hóa Việt Nam mang tính hệ thống, giá trị, lịch sử và nhân sinh. Đó là sự kết tinh của:

Đạo đức, lối sống: nhân ái, vị tha, nghĩa tình.

Nghi thức, ứng xử: trọng lễ nghĩa, hòa hiếu, nhân văn.

Truyền thống, phong tục: gắn với tổ tiên, cội nguồn dân tộc.

Tri thức, trình độ: phản ánh năng lực sáng tạo, tiếp thu và đổi mới.

Đặc trưng, bản sắc: thể hiện trong tà áo dài, tiếng Việt, lễ Tết, ca dao dân ca…

Áo dài, chẳng hạn, không chỉ là trang phục – mà là biểu tượng văn hóa, là linh hồn dân tộc. Nghĩ đến áo dài là nghĩ đến sự dịu dàng, bản lĩnh, kiêu hãnh mà sâu sắc của người phụ nữ Việt Nam.

Văn hóa là con đường của phát triển bền vững

Ngày nay, trong công cuộc chuyển đổi số, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập toàn diện, văn hóa càng đóng vai trò sống còn. Văn hóa điều tiết hành vi con người, tạo dựng niềm tin xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh mềm của quốc gia. Không có văn hóa dẫn đường, dễ rơi vào khủng hoảng giá trị và suy thoái đạo đức.

Do đó, nhiệm vụ cấp thiết là:

Phát triển con người Việt Nam toàn diện.

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển văn hóa.

Đầu tư mạnh cho giáo dục, nghệ thuật, truyền thông nhân văn.

Lan tỏa hình mẫu con người Việt Nam hiện đại – hội nhập – bản lĩnh – nhân ái.

Văn hóa không nằm trên giấy, mà sống trong mỗi hành vi, lời nói, sản phẩm, quyết sách. Trong kỷ nguyên mới, càng cần phát huy văn hóa như ngọn lửa dẫn đường, như nền tảng để dựng xây một nước Việt hùng cường – nhân văn – bền vững.

Nếu coi kinh tế là thể lực, thì văn hóa chính là khí chất của một quốc gia”.

Hãy gìn giữ, làm giàu và lan tỏa khí chất Việt!


Quan niệm của Marx – Engels về văn hóa: Văn hóa là sản phẩm của lao động sáng tạo

Karl Marx và Friedrich Engels – hai nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử – không tiếp cận văn hóa một cách tách biệt, mà đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với lao động, sản xuất và sự phát triển của lịch sử nhân loại.

 Văn hóa là sản phẩm của lao động sáng tạo

Marx và Engels khẳng định:

 “Văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người.”

Văn hóa, vì vậy, không chỉ là những giá trị tinh thần như đạo đức, nghệ thuật, mà còn là hệ quả trực tiếp từ quá trình con người sử dụng trí tuệ, năng lực và bàn tay mình để cải biến tự nhiên và xã hội.

Đó là quá trình "gieo trồng cái đẹp", tức là biến những gì chưa hoàn thiện thành những giá trị nhân văn, phù hợp với quy luật của cái đẹp, cái tiến bộ.

Văn hóa là phương thức người tạo nên chính mình

Văn hóa không phải thứ gì đó “trừu tượng”, mà là cách con người thể hiện bản thân trong thế giới khách quan – từ việc ăn, mặc, ở, làm… đến tư duy, tổ chức xã hội. Đặc biệt, văn hóa còn bao gồm cả việc con người “cải tạo tự nhiên trong chính mình”, tức là tự hoàn thiện đạo đức, nhân cách, phẩm giá – một cách có ý thức và bền bỉ.

Văn hóa gắn với nền tảng sản xuất – là động lực phát triển xã hội

Marx – Engels kết luận:

Sản xuất vật chất là cơ sở, là yếu tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại.”
Tuy nhiên, họ cũng khẳng định vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần, có tác động qua lại và ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận động tiến bộ hay thoái hóa của xã hội.

Nói cách khác, văn hóa là thước đo mức độ văn minh, là động lực tinh thần của phát triển bền vững, là nền tảng để một dân tộc không chỉ sống sót – mà sống có phẩm giá, có bản lĩnh và có khát vọng vươn lên.

Quan niệm của Marx – Engels về văn hóa đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình sáng tạo. Trong bối cảnh mới, Việt Nam cần vận dụng tư tưởng này để xây dựng nền văn hóa “khai phóng – nhân văn – hội nhập”, đưa văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2025

NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

I. KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG

1. Năng lực lãnh đạo của Đảng là gì?

Là khả năng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, lãnh đạo toàn xã hội thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng.

Biểu hiện qua năng lực:

Dự báo tình hình, hoạch định chiến lược

Ban hành nghị quyết đúng và khả thi

Tổ chức bộ máy khoa học, cán bộ đủ tâm – tầm – tài

Lãnh đạo hiệu quả các tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền các cấp

2. Sức chiến đấu của Đảng là gì?

Là khả năng đấu tranh bảo vệ đường lối, giữ vững nguyên tắc, đấu tranh chống tiêu cực – suy thoái – tự diễn biến – tự chuyển hóa trong nội bộ.

Thể hiện qua:

Tinh thần kỷ luật, tự phê và phê bình

Sự gương mẫu của Đảng viên

Khả năng chỉnh đốn Đảng, tự đổi mới, tự làm sạch

II. CƠ SỞ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh:

“Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Là tổ chức lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.”

 “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.”

Người cho rằng:

Đảng mạnh là do từng chi bộ mạnh, từng Đảng viên gương mẫu.

Đảng muốn vững phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

III. THỰC TIỄN, BỔ SUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Trách nhiệm của người Đảng viên

Mỗi Đảng viên là hạt nhân trong hệ thống chính trị, cần phát huy đạo đức cách mạng:

Cần – kiệm – liêm – chính – chí công vô tư

Trung với nước – hiếu với dân

Gương mẫu trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là nơi cư trú và trong cơ quan, đơn vị

2. Khả năng ra nghị quyết, cương lĩnh

Năng lực lãnh đạo thể hiện qua khả năng xây dựng cương lĩnh, nghị quyết sát đúng tình hình thực tiễn từng thời kỳ:

Cương lĩnh 1991, 2011, các nghị quyết Trung ương 4, 5, 6, 7, 8 khóa XII–XIII...

Gắn kết giữa lý luận và nhiệm vụ phát triển kinh tế – chính trị – văn hóa – an ninh quốc phòng

3. Đưa nghị quyết vào cuộc sống

Là nhiệm vụ then chốt, thể hiện sức sống của nghị quyết:

Qua các hình thức: tuyên truyền, quán triệt, xây dựng chương trình hành động, giám sát, kiểm tra

Áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh

4. Điều kiện cần và điều kiện đủ để Đảng mạnh

Điều kiện cần: Có nghị quyết đúng, cán bộ đủ phẩm chất, tổ chức chặt chẽ, dân tin yêu

Điều kiện đủ:

Đảng là cơ thể sống, không ngừng tự đổi mới – tự chỉnh đốn

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ nghiêm túc

Đoàn kết nội bộ: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là then chốt thành công”

5. Vai trò của cấp ủy và từng Đảng viên

Cấp ủy giữ vai trò tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ đạo xuyên suốt

Từng Đảng viên giữ vai trò then chốt trong sinh hoạt chi bộ, gương mẫu, tiên phong, là cầu nối giữa Đảng và dân

Trong sinh hoạt:

Họp nghị quyết phải đánh giá đúng tư tưởng Đảng viên, lắng nghe tâm tư, phản ánh, xây dựng đoàn kết

Mỗi Đảng viên phải thấy rõ vai trò của mình trong việc thực thi nghị quyết

IV. KẾT LUẬN

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là hai yếu tố cốt lõi tạo nên bản lĩnh, uy tín và sự tồn vong của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng chỉ đường, là ngọn lửa soi sáng quá trình xây dựng Đảng.

 “Muốn cho Đảng ta vững mạnh, phải làm cho mỗi Đảng viên, mỗi chi bộ đều tốt, làm tròn nhiệm vụ của mình.” – Hồ Chí Minh

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2024

Phân tích về các vấn đề kinh tế chính trị bài 12 và bài 13

1. Hai thuộc tính của hàng hóa và liên hệ với hàng hóa sản xuất ở Việt Nam

  • Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa:

  • Giá trị sử dụng: Là khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Ví dụ: một chiếc áo có giá trị sử dụng là che chắn cơ thể, giữ ấm.

  • Giá trị: Là lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị của hàng hóa được thể hiện qua quá trình trao đổi, mua bán.

  • Liên hệ với hàng hóa sản xuất ở Việt Nam: Hàng hóa sản xuất tại Việt Nam cũng mang hai thuộc tính này. Ví dụ:

  • Gạo: Có giá trị sử dụng là cung cấp dinh dưỡng cho con người và giá trị được thể hiện qua giá bán trên thị trường.

  • Điện thoại di động: Có giá trị sử dụng là liên lạc, giải trí và giá trị được thể hiện qua các mức giá khác nhau của các hãng sản xuất.

2. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

  • Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa:

  • Sự phân công lao động xã hội: Khi xã hội phát triển, lao động được phân công ngày càng chuyên môn hóa.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất: Các tư liệu sản xuất (đất đai, nhà xưởng, máy móc) thuộc sở hữu tư nhân.

  • Sản xuất hàng hóa để trao đổi: Sản phẩm được sản xuất không chỉ để tự tiêu dùng mà còn để trao đổi trên thị trường.

  • Liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam: Nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa. Điều này có nghĩa là các điều kiện trên đã được hình thành và phát triển ở Việt Nam. Sự phát triển của các doanh nghiệp, sự đa dạng hóa sản phẩm và sự phát triển là của thị trường là minh chứng rõ ràng cho điều này.

3. Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam

  • Quy luật giá trị: Hàng hóa được trao đổi tương đương với lượng lao động xã hội bình quân cần thiết để sản xuất ra chúng.

  • Ý nghĩa:

  • Cơ sở hình thành giá cả: Quy luật giá trị là cơ sở để hình thành giá cả trên thị trường.

  • Điều tiết sản xuất: Quy luật giá trị điều tiết sản xuất bằng cách hướng sản xuất tới những hàng hóa có nhu cầu cao và hạn chế sản xuất những hàng hóa không có nhu cầu.

  • Phân phối thu nhập: Quy luật giá trị ảnh hưởng đến phân phối thu nhập giữa các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất.

  • Ý nghĩa đối với Việt Nam: Quy luật giá trị đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Nó thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất và phân phối, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.

4. Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và hàng hóa sức lao động

  • Công thức chung của tư bản: c + v + m (trong đó c: tư bản bất biến, v: tư bản biến đổi, m: giá trị thặng dư).

  • Hàng hóa sức lao động: Là hàng hóa đặc biệt, có giá trị sử dụng là tạo ra giá trị mới.

  • Mâu thuẫn: Mặc dù sức lao động tạo ra giá trị thặng dư, nhưng bản thân nó lại được mua bán như một hàng hóa với một giá trị nhất định (v). Sự mâu thuẫn này nằm ở chỗ: sức lao động vừa là nguồn gốc tạo ra giá trị, vừa là đối tượng bị mua bán.

5. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc nghiên cứu

  • Hai phương pháp:

  • Bóc lột tuyệt đối: Tăng thời gian lao động.

  • Bóc lột tương đối: Tăng cường độ lao động.

  • Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

  • Hiểu rõ quá trình tạo ra giá trị thặng dư: Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

  • Phát hiện các hình thức bóc lột: Giúp chúng ta nhận biết các hình thức bóc lột lao động và tìm ra các giải pháp để chống lại chúng.

  • Xây dựng các chính sách kinh tế xã hội: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và phát triển kinh tế bền vững.


Câu 1: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa và liên hệ với hàng hóa sản xuất ở Việt Nam

1. Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa

Mọi hàng hóa đều sở hữu hai thuộc tính cơ bản:

  • Giá trị sử dụng: Đây là khả năng của hàng hóa thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Nói cách khác, đó là công dụng của hàng hóa. Ví dụ: một chiếc điện thoại có giá trị sử dụng là liên lạc, giải trí; một chiếc xe hơi có giá trị sử dụng là phương tiện di chuyển.

  • Giá trị: Đây là lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị của hàng hóa được thể hiện qua quá trình trao đổi, mua bán. Nói cách khác, giá trị của một chiếc điện thoại không chỉ phụ thuộc vào vật liệu, công nghệ mà còn phụ thuộc vào thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó.

2. Liên hệ với hàng hóa sản xuất ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hàng hóa sản xuất cũng sở hữu đầy đủ hai thuộc tính này. Hãy lấy ví dụ về một số sản phẩm tiêu dùng phổ biến:

  • Nông sản: Gạo, trái cây, rau củ... có giá trị sử dụng là cung cấp dinh dưỡng cho con người và giá trị được thể hiện qua giá cả trên thị trường.

  • Công nghiệp: Điện thoại di động, ô tô, máy tính... có giá trị sử dụng rất đa dạng và giá trị của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thương hiệu, công nghệ, tính năng.

  • Dịch vụ: Các dịch vụ như du lịch, nhà hàng, khách sạn... cũng là hàng hóa, chúng có giá trị sử dụng là đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của con người và giá trị được thể hiện qua chi phí dịch vụ.

Ví dụ cụ thể:

  • Một chiếc áo sơ mi: Giá trị sử dụng của nó là che chắn cơ thể, làm đẹp. Giá trị của nó phụ thuộc vào chất liệu, kiểu dáng, thương hiệu và thời gian lao động để sản xuất ra nó.

  • Một chiếc xe máy: Giá trị sử dụng là phương tiện di chuyển. Giá trị của nó phụ thuộc vào hãng sản xuất, công suất, tính năng và thời gian lao động để sản xuất ra nó.

Kết luận:

Hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là những đặc trưng cơ bản của hàng hóa, bất kể đó là hàng hóa sản xuất ở đâu và trong ngành nào. Ở Việt Nam, tất cả các hàng hóa, từ nông sản đến công nghiệp, dịch vụ đều mang hai thuộc tính này. Việc hiểu rõ hai thuộc tính này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quy luật vận động của nền kinh tế thị trường và vai trò của hàng hóa trong cuộc sống.

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của hàng hóa:

  • Lao động: Lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa.

  • Nguyên vật liệu: Chất lượng và giá cả của nguyên vật liệu đầu vào.

  • Công nghệ: Mức độ hiện đại của công nghệ sản xuất.

  • Cung cầu: Sự biến động của cung và cầu trên thị trường.

  • Thương hiệu: Giá trị thương hiệu của sản phẩm.

Ý nghĩa của việc phân tích hai thuộc tính của hàng hóa:

  • Hiểu rõ bản chất của hàng hóa: Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của hàng hóa trong đời sống kinh tế.

  • Đánh giá giá trị của hàng hóa: Giúp chúng ta so sánh và đánh giá giá trị của các loại hàng hóa khác nhau.

  • Phân tích thị trường: Giúp chúng ta phân tích thị trường và đưa ra các quyết định kinh doanh hiệu quả.

Câu 2 : 

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là một hình thức tổ chức sản xuất đặc trưng bởi việc sản xuất ra sản phẩm không chỉ để tự tiêu dùng mà còn để trao đổi trên thị trường. Để sản xuất hàng hóa ra đời, cần hội tụ hai điều kiện cơ bản:

  • Sự phân công lao động xã hội: Thay vì tự sản xuất ra tất cả mọi thứ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, người lao động bắt đầu chuyên môn hóa trong một lĩnh vực sản xuất nhất định. Điều này dẫn đến sự đa dạng hóa sản phẩm và tạo ra nhu cầu trao đổi giữa các cá nhân.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất: Các tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ sản xuất, nhà xưởng...) thuộc sở hữu tư nhân của các cá nhân hoặc nhóm người. Điều này tạo ra sự tách biệt về kinh tế giữa các nhà sản xuất và thúc đẩy họ sản xuất hàng hóa để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân.

Liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa. Quá trình này gắn liền với việc hình thành và phát triển của hai điều kiện trên:

  • Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng:

  • Ngành nghề: Việt Nam có sự phân hóa ngành nghề ngày càng rõ rệt, từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ.

  • Địa phương: Các địa phương chuyên môn hóa trong sản xuất các sản phẩm đặc trưng, tạo ra sự đa dạng về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.

  • Doanh nghiệp: Sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp với các lĩnh vực hoạt động khác nhau cũng là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất:

  • Sở hữu nhà nước: Một phần lớn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, nhưng tỷ trọng này ngày càng giảm.

  • Sở hữu tư nhân: Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, với sự xuất hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty cổ phần.

  • Sở hữu hợp tác xã: Hình thức sở hữu này vẫn tồn tại ở một số lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp.

Những biểu hiện của nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

  • Sự phát triển của thị trường: Thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng sôi động và đa dạng.

  • Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp phải cạnh tranh để giành thị phần và tăng lợi nhuận.

  • Sự đổi mới công nghệ: Các doanh nghiệp không ngừng đầu tư vào công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

  • Sự hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.

Kết luận:

Nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:

  • Cạnh tranh không lành mạnh: Một số doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành thị phần.

  • Chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường nội địa: Thị trường nội địa vẫn còn nhiều phân khúc chưa được khai thác đầy đủ.

  • Vẫn còn tồn tại một số rào cản đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Để phát triển nền kinh tế hàng hóa một cách bền vững, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp.

Câu 3: 


Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là một hình thức tổ chức sản xuất đặc trưng bởi việc sản xuất ra sản phẩm không chỉ để tự tiêu dùng mà còn để trao đổi trên thị trường. Để sản xuất hàng hóa ra đời, cần hội tụ hai điều kiện cơ bản:

  • Sự phân công lao động xã hội: Thay vì tự sản xuất ra tất cả mọi thứ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, người lao động bắt đầu chuyên môn hóa trong một lĩnh vực sản xuất nhất định. Điều này dẫn đến sự đa dạng hóa sản phẩm và tạo ra nhu cầu trao đổi giữa các cá nhân.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất: Các tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ sản xuất, nhà xưởng...) thuộc sở hữu tư nhân của các cá nhân hoặc nhóm người. Điều này tạo ra sự tách biệt về kinh tế giữa các nhà sản xuất và thúc đẩy họ sản xuất hàng hóa để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân.

Liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa. Quá trình này gắn liền với việc hình thành và phát triển của hai điều kiện trên:

  • Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng:

  • Ngành nghề: Việt Nam có sự phân hóa ngành nghề ngày càng rõ rệt, từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ.

  • Địa phương: Các địa phương chuyên môn hóa trong sản xuất các sản phẩm đặc trưng, tạo ra sự đa dạng về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.

  • Doanh nghiệp: Sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp với các lĩnh vực hoạt động khác nhau cũng là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất:

  • Sở hữu nhà nước: Một phần lớn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, nhưng tỷ trọng này ngày càng giảm.

  • Sở hữu tư nhân: Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, với sự xuất hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty cổ phần.

  • Sở hữu hợp tác xã: Hình thức sở hữu này vẫn tồn tại ở một số lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp.

Những biểu hiện của nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

  • Sự phát triển của thị trường: Thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng sôi động và đa dạng.

  • Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp phải cạnh tranh để giành thị phần và tăng lợi nhuận.

  • Sự đổi mới công nghệ: Các doanh nghiệp không ngừng đầu tư vào công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

  • Sự hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.

Kết luận:

Nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:

  • Cạnh tranh không lành mạnh: Một số doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành thị phần.

  • Chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường nội địa: Thị trường nội địa vẫn còn nhiều phân khúc chưa được khai thác đầy đủ.

  • Vẫn còn tồn tại một số rào cản đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Để phát triển nền kinh tế hàng hóa một cách bền vững, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp.

Câu 4


Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là một hình thức tổ chức sản xuất đặc trưng bởi việc sản xuất ra sản phẩm không chỉ để tự tiêu dùng mà còn để trao đổi trên thị trường. Để sản xuất hàng hóa ra đời, cần hội tụ hai điều kiện cơ bản:

  • Sự phân công lao động xã hội: Thay vì tự sản xuất ra tất cả mọi thứ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, người lao động bắt đầu chuyên môn hóa trong một lĩnh vực sản xuất nhất định. Điều này dẫn đến sự đa dạng hóa sản phẩm và tạo ra nhu cầu trao đổi giữa các cá nhân.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất: Các tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ sản xuất, nhà xưởng...) thuộc sở hữu tư nhân của các cá nhân hoặc nhóm người. Điều này tạo ra sự tách biệt về kinh tế giữa các nhà sản xuất và thúc đẩy họ sản xuất hàng hóa để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân.

Liên hệ với nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa. Quá trình này gắn liền với việc hình thành và phát triển của hai điều kiện trên:

  • Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng:

  • Ngành nghề: Việt Nam có sự phân hóa ngành nghề ngày càng rõ rệt, từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ.

  • Địa phương: Các địa phương chuyên môn hóa trong sản xuất các sản phẩm đặc trưng, tạo ra sự đa dạng về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.

  • Doanh nghiệp: Sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp với các lĩnh vực hoạt động khác nhau cũng là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội.

  • Tư hữu về tư liệu sản xuất:

  • Sở hữu nhà nước: Một phần lớn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, nhưng tỷ trọng này ngày càng giảm.

  • Sở hữu tư nhân: Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, với sự xuất hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty cổ phần.

  • Sở hữu hợp tác xã: Hình thức sở hữu này vẫn tồn tại ở một số lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp.

Những biểu hiện của nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam

  • Sự phát triển của thị trường: Thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng sôi động và đa dạng.

  • Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp phải cạnh tranh để giành thị phần và tăng lợi nhuận.

  • Sự đổi mới công nghệ: Các doanh nghiệp không ngừng đầu tư vào công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

  • Sự hội nhập kinh tế quốc tế: Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.

Kết luận:

Nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:

  • Cạnh tranh không lành mạnh: Một số doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành thị phần.

  • Chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường nội địa: Thị trường nội địa vẫn còn nhiều phân khúc chưa được khai thác đầy đủ.

  • Vẫn còn tồn tại một số rào cản đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Để phát triển nền kinh tế hàng hóa một cách bền vững, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp.

Câu 5


Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư và Ý Nghĩa Nghiên Cứu

Các Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư

Marx đã chỉ ra hai phương pháp chính mà tư bản chủ nghĩa sử dụng để sản xuất giá trị thặng dư:

  • Giá trị thặng dư tuyệt đối: Phương pháp này dựa trên việc kéo dài thời gian lao động. Nói cách khác, người công nhân phải làm việc vượt quá thời gian cần thiết để tái sản xuất lại giá trị sức lao động của mình. Phần thời gian làm việc thêm này chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư.

  • Giá trị thặng dư tương đối: Phương pháp này dựa trên việc tăng cường độ lao động. Thay vì kéo dài thời gian làm việc, người ta tìm cách tăng năng suất lao động trong cùng một đơn vị thời gian. Điều này có thể đạt được bằng cách:

  • Cải tiến công nghệ: Đầu tư vào máy móc, thiết bị hiện đại để nâng cao năng suất.

  • Tổ chức sản xuất hợp lý: Áp dụng các phương pháp tổ chức sản xuất khoa học để giảm thiểu thời gian chết.

  • Nâng cao trình độ của người lao động: Đào tạo, bồi dưỡng để người lao động làm việc hiệu quả hơn.

Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu

Việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có ý nghĩa rất quan trọng:

  • Hiểu rõ bản chất của chế độ tư bản: Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức mà tư bản chủ nghĩa tạo ra lợi nhuận, về mâu thuẫn giữa người lao động và nhà tư bản.

  • Phát hiện các hình thức bóc lột: Nghiên cứu này giúp chúng ta nhận biết các hình thức bóc lột lao động dưới nhiều hình thức khác nhau, từ việc kéo dài giờ làm việc đến việc cường điệu hóa nhịp độ làm việc.

  • Xây dựng các chính sách xã hội: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, giảm thiểu sự bất bình đẳng và thúc đẩy phát triển bền vững.

  • Đánh giá hiệu quả của các chính sách kinh tế: Giúp chúng ta đánh giá tác động của các chính sách kinh tế đối với người lao động và doanh nghiệp.

  • Cải thiện điều kiện làm việc: Nghiên cứu này có thể giúp cải thiện điều kiện làm việc, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.

So sánh và phân tích sâu hơn

  • Giá trị thặng dư tuyệt đối: Phương pháp này thường được áp dụng trong các ngành công nghiệp truyền thống, nơi mà công nghệ sản xuất chưa được hiện đại hóa. Tuy nhiên, phương pháp này ngày càng trở nên khó áp dụng do các quy định pháp luật về thời gian làm việc.

  • Giá trị thặng dư tương đối: Phương pháp này ngày càng được ưa chuộng trong nền kinh tế hiện đại, nơi mà công nghệ đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc tăng cường độ lao động quá mức có thể gây ra những hậu quả tiêu cực như stress, giảm hiệu quả làm việc lâu dài.

Kết luận

Việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là một công cụ hữu ích để phân tích các vấn đề kinh tế xã hội. Bằng cách hiểu rõ cơ chế tạo ra giá trị thặng dư, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để cải thiện đời sống của người lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.