Pages

Đỗ Văn Hiếu: Làm giàu không khó… hay làm hoài không khá?

'Làm giàu liệu có dễ như mọi người nghĩ? Xin thưa, rất khó. Nhưng nếu kiên trì và có tài thì mọi thứ đều có thể đến', Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu khẳng định và nhớ lại câu chuyện khởi nghiệp của mình...

Doanh nhân Đỗ Văn Hiếu: "Cho đi là nhận lại"

Từ một chàng sinh viên nghèo trở thành chủ doanh nghiệp ở tuổi còn rất trẻ. Giờ đây, doanh nhân Đỗ Văn Hiếu đảm nhiệm nhiều công việc ở những ngành nghề hoàn toàn khác nhau với nhiều chức danh quan trọng...

Đỗ Văn Hiếu - doanh nhân trẻ khát vọng dẫn đầu ngành BĐS Việt

24 giờ là quỹ thời gian quá ít ỏi để doanh nhân (DN) trẻ tuổi này giải quyết hết lượng công việc đồ sộ của hơn 6 công ty bất động sản (BĐS). Bận rộn là thế, nhưng DN Đỗ Văn Hiếu chưa bao giờ dám cho phép mình được ngơi nghỉ. Anh luôn đau đáu với những triết lý kinh doanh mới, mô hình hoạt động mới trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, nhằm hướng tới nhiều giá trị mang tính bền vững và ổn định...

CEO Đỗ Văn Hiếu: Nếu thời cơ là 'vàng' thì con người là 'mỏ vàng'

Chia sẻ cùng chúng tôi doanh nhân Đỗ Văn Hiếu - Tổng Giám đốc Công ty CP An Cư Lạc Nghiệp – nhấn mạnh vào mấu chốt sự thành công trong đầu tư BĐS...

Trưởng phòng không lương.

Đánh liều xin việc vào các cơ quan với “cam kết làm việc không lương nếu không có hiệu quả” Hiếu nghĩ, “Khi tay trắng khởi nghiệp, một trong những cách làm giàu nhanh là kinh doanh trực tuyến, hoặc kinh doanh dịch vụ, như môi giới bất động sản, chứng khoán...”.

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

BÌNH LUẬN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Căn cứ theo Bản án số 35/2017/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2017/TLPT-DS ngày 30/5/2017 về Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÓM 2:  BÌNH LUẬN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Căn cứ theo Bản án số 35/2017/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2017/TLPT-DS ngày 30/5/2017 về Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Như H (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L (vắng mặt ), ủy quyền cho bà Nguyễn Thị C (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị C - vợ ông L (có mặt)
- Bà Bùi Thị S - vợ ông H (có đơn xin xử vắng mặt)
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Như H trình bày:
- Ngày 30/12/2012, giữa ông và ông L có thỏa thuận vay 196.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất thỏa thuận miệng theo lãi suất của ngân hàng.
- Đến hạn trả nợ, ông L không trả tiền cho ông H, chỉ mới trả được số tiền lãi là 43.000.000 đồng tính đến ngày 30/5/2015.
- Ông H yêu cầu vợ chồng ông L, bà C trả số tiền gốc là 196.000.000 đồng, không yêu cầu vợ chồng ông L trả tiền lãi nữa.
- Bà C (vợ ông L) có xuất trình giấy biên nhận đề ngày 22/6/2013 thể hiện chồng bà C là ông L đã bán xe ô tô trị giá 200.000.000 đồng cho ông H; và cho rằng ông đã ký nhận nợ với ông L số tiền trên là hoàn toàn không đúng.
- Ông H đề nghị giám định chữ kí H trong giấy biên nhận do bà C trình bày.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn L trình bày:
- Cuối năm 2010, ông có vay của ông Nguyễn Như H số tiền 100.000.000 đồng. Sau đó, ông đã dần tiền cho ông H.
- Đến cuối 2011 thì ông L chỉ còn nợ ông H khoảng hơn 30.000.000 đồng.
- Do ông H nợ ông Nguyễn Ngọc N cho nên 3 ông L, H, N thống nhất chuyển số nợ 30.000.000 đồng của ông H đối với ông N sang cho ông L. ông N sẽ lấy cám chăn nuôi của ông L để trừ dần số nợ 30.000.000 đồng.
- Ông L không thừa nhận số nợ 196.000.000 đồng và yêu cầu giám định chữ ký “ Nguyễn Văn L” trong giấy vay tiền ngày 30/12/2012 là của mình.
Biên bản hòa giải ngày 29/5/2015
Bà C (vợ ông L) trình bày
- Thừa nhận ông L có vay của ông H số tiền là 100.000.000 đồng (ngày 10/10/2012).
- Tháng 5/2013: ông H, ông N, bà C đã thỏa thuận chuyển khoản nợ của ông N là 30.000.000 đồng sang cho ông H, nên bà C chỉ còn nợ ông H là 70.000.000 đồng, đã trả 32.000.000 tiền lãi. Bà C không đồng ý việc ông H kiện đòi 196.000.000 đồng và 5.800.000 đồng tiền lãi; chỉ chấp nhận trả 70.000.000 đồng.
Biên bản hòa giải ngày 19/6/2015
Bà C (vợ ông L) trình bày
- Thừa nhận ông L có vay của ông H số tiền là 100.000.000 đồng (ngày 10/10/2010).
- Tháng 12/2010, ông H, ông N, bà C đã thỏa thuận chuyển khoản nợ của ông N là 30.000.000 đồng sang cho ông H.
- Tháng 12/2010, bà C trả tiếp ông H 25.700.000 đồng nên chỉ còn nợ ông H 44.300.000 đồng. Bà C không đồng ý việc ông H kiện đòi 196.000.000 đồng và 5.800.000 đồng tiền lãi; chỉ chấp nhận trả 44.300.000 đồng.
Tại biên bản đối chất với ông H ngày 10/7/2015:
Bà C xác nhận giấy vay tiền 196.000.000 đồng đề ngày 30/12/2012 của chồng bà C là ông L ký là đúng. Gia đình bà đã trả tiền cho ông H vào ngày 22/6/2013, khi trả tiền có viết giấy biên nhận, anh H nhận tiền. Không chấp nhận việc nguyên đơn khởi kiện.
Tại biên bản đối chất với ông H ngày 21/7/2015:
Bà C trình bày về giấy nợ đề ngày 22/6/2013 chồng bà là ông L bán xe ô tô trả tiền cho ông H 200.000.000 đồng gồm tiền gốc vay là 196.000.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền lãi. Ông H đã nhận tiền và viết giấy nhận nợ cho ông L ngày 22/6/2013 (bà C xuất trình 1 giấy biên nhận nợ ghi ngày 22/6/2013 và khẳng định chữ viết, chữ kí trong giấy biên nhận nợ là của ông H).
Bình luận của nhóm trước phiên xử sơ thẩm:
- Thứ nhất, cần giám định chữ viết và chữ ký trong Giấy vay tiền ngày 30/12/2012 và Giấy nhận tiền ngày 22/6/2013.
- Thứ hai, cần làm rõ số tiền lãi 43.000.000 đồng của khoản vay 196.000.000 đồng là có hợp lý hay chưa?
- Thứ ba, cần triệu tập ông Nguyễn Ngọc N để làm rõ việc cấn trừ nợ giữa ông H, ông N và ông L.
- Cuối cùng, yêu cầu bà C cung cấp các chứng từ liên quan đến việc trả nợ cho ông H như bà đã khai như: đã trả cho ông H 25,7 triệu đồng.
Bình luận của nhóm sau phiên xử sơ thẩm:
- Thứ nhất, Tòa sơ thẩm căn cứ vào kết quả giám định giấy vay tiền và giấy nhận nợ tuyên buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị C phải liên đới thanh toán trả cho vợ chồng ông Nguyễn Như H và bà Bùi Thị S số tiền gốc vay còn lại là 196.000.000 đồng là còn thiếu sót khi chưa làm rõ tiền lãi 43.000.000 đồng đã hợp lý hay chưa. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn theo quy định của pháp luật thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực; và nên được khấu trừ vào tiền nợ gốc.
- Thứ hai, chưa hỏi rõ ông H và tiến hành đối chất về việc cấn trừ nợ như phía ông L và ông N đã khai.
triệu tập nhân chứng Nguyễn Ngọc N để làm rõ việc cấn trừ nợ giữa ông H, ông N và ông L.
- Cuối cùng, chưa yêu cầu bà C cung cấp các chứng từ liên quan đến việc trả nợ cho ông H như bà đã khai như: đã trả cho ông H 25,7 triệu đồng.
Bình luận của nhóm sau phiên xử phúc thẩm:
- Thứ nhất, thống nhất với Tòa phúc thẩm bác bỏ lời trình bày của bà C cho rằng chỉ còn nợ ông H số tiền 19.600.000 đồng (do trên giấy biên nhận bị gạch 1 chữ số 0) và chưa đến thời hạn trả (do ghi ngày 31/12/20012) là không có cơ sở chấp nhận.
- Thứ hai, Tòa đã triệu tập ông Nguyễn Ngọc N và ông N cũng đã có bản tự khai về việc có thỏa thuận cấn trừ nợ giữa ông H, ông N và ông L nhưng chỉ là thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản.
- Cuối cùng, Tòa phúc thẩm đã làm rõ căn cứ để xác định số tiền lãi mà vợ chồng ông L phải trả.
Giải pháp:
Để tránh xảy ra các trường hợp tranh chấp về việc vay tài sản thì các bên (bên cho vay và bên vay) cần lập hợp đồng vay mượn dưới hình thức văn bản. Trong đó, quy định cụ thể về thời hạn vay, lãi suất, mục đích vay, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán… nhằm tránh những tranh chấp có thể xảy ra.


Bản án về hợp đồng dịch vụ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Huyền
Ông Đào Minh Đức
- Thư kí phiên tòa : Bà Vi Hải Yến – Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Qùy Châu , tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 5 năm 2019 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lí số: 14/2018/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp thanh toán hợp đồng dịch vụ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn : Ông Vạn Văn Tiến. Sinh năm: 1972
Trú tại: Bản Húa Na, xã Chậu Hạnh, huyện Quỳ Châu , tỉnh NGhệ An
Có mặt
-Đồng bị đơn: -Ông Vi Văn Thắng. Sinh năm: 1972. Vắng mặt
                       - Bà Hà Thị Lương. Sinh năm: 1974. Vắng mặt
Cùng trú tại: Bản Tà Sỏi, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
Vắng mặt
-Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang. Trợ  giúp viên pháp lý – chi nhánh số 2. Trung tâm trợ giup pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt
-Người làm chứng: 1. Ông Lữ Văn Ngọ. Sinh năm: 1978. Có mặt
                                2. Ông Vi văn Lưu. Sinh năm 1963. Có mặt
                                3. Ông Lữ Văn Hùng. Sinh năm: 1968. Có mặt
                                4. Ông Lang Văn Toán. Sinh năm: 1981. Có mặt
Đều trú tại: Bản Húa Na, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
                                5. Ông Hoàng Ngọc Chính. Sinh năm: 1982. Vắng mặt
Trú tại : Bản Chàng, xã Châu Thuận, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 12 năm 2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Vạn Văn Tiến trình bày: Ngày 18/02/2017, Ông Vạn Văn Tiến và Ông Vi Văn Thắng cùng nhau làm hợp đồng xây tầng 2 nhà bếp cho gia đình ông Thắng tại bản Tà Sỏi, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An với thời hạn 02 tháng kể từ ngày thi công. Đến ngày 01/03/2017, Ông Tiến cùng thợ đến tiến hành thi công thì phát hiện móng tầng 1 bị lệch nên không thể tiến hành xây dựng như nội dung trong hợp đồng. Vì vậy, giữa ông Tiến và gia đình ông Thắng đã thảo thuận đập bỏ tường bao tầng 1 và làm lại móng, xây dựng từ đầu. Quá trình xây dựng thì gia đình ông Thắng yêu cầu làm thêm ngoài hợp đồng, đó là ốp gạch toàn bộ tầng 1 và tầng 2 chứ không lăn sơn như tỏa thuận. Vì vậyđã kéo dài thời gian thi công hơn dự tính. Ngày 13/5/2017, khi ông Tiến và thợ đến để thi công thi ông Thắng và gia đình không cho ông Tiến làm tiếp nữa. Mặc dù sau đó thì ông Tiến đã nhiều lần liên hệ nhưng ông Thắng và gia đình không cho ông Tiến tiếp tục thi công hoàn thiện công trình. Quá trình thi công thì ông Tiến đã tạm ứng tiền công với số tiền 23.000.000 đ ( Hai mươi ba triệu đồng). Nay, ông Tiến khởi kiện yêu cầu ông Thắng và bà Lương phải thanh toán tiền công còn thiếu và lãi suất khỏan vay mà ông Tiến phải đi vay để trả tiền công thợ, tổng cộng với số tiền 74.032.000đ ( Bảy mưới tư triệu, không trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, ông Tiến rút một phần yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án buộc ông Thắng – bà Lương phải thanh toán tiền công còn thiếu sau khi đã trừ đi số tiền tạm ứng và chi phí phát sinh với số tiền là 39.098.000đ. Ông Tiến yêu cấu ông Thắng – bà Lương phải chịu tiền lãi của khoản nợ này từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2019 với lãi suất 1,66%/ tháng với số tiền 14.927.000đ. Tổng cộng, ông Tiến yêu cầu buộc ông Thắng – bà Lương phải thanh toán số tiền là 54.025.000đ (Năm mươi triệu ,  không tră, hai mươi lăm nghìn đồng).
Đồng bị đơn là ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương trình bày: Ông Thắng – bà Lương thừa nhận vào ngày 18/2/2017 có làm hợp đông thuê ông Tiến thi công ngôi nhà bếp 02 tầng trong thời gian 02 tháng kể từ ngày khởi công. Tuy nhiên, quá trình thi công kéo dài gây khó khăn cho gia đình ông Thắng sinh hoạt và công việc hàng ngày. Vì vậy, ngày 13/05/2017, gia đình ông Thắng đã không cho ông Tiến tiếp tục thi công công trình và đã thuê người hòa thiện ngôi nhà. Nay Ông Tiến khởi kiện yêu cầu thanh toán với số tiền 74.032.000đ thì ông Thắng – bà Lương không đồng ý. Ông Thắng – bà Lương chỉ chấp nhận thanh toán cho ông Tiến số tiền 20.583.000đ( Hai mươi triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn đồng) sau khi trừ đi tiền công đã tạm ứng, tiền chi phí thuê người và tiền phạt do thực hiện chậm hợp đồng.
Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan – chị Vi Thị Lê trình bày: Vào thời gian tháng 2/2017, giữa ông Vạn Văn Tiến với bố mẹ chị Lê ( Ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương) có làm hợp đồng để xây dựng ngôi nhà bếp cho gia đình chị Lê với thời hạn 02 tháng. Quá trình thi công ông Tiến và nhóm thợ làm việc không đều đặn về mặt thời gian nên dẫn đến kéo dài thời gian thi công. Mặc dù chưa hoàn thiện công trình nhưng ông Tiến đòi bố mẹ chị Lê thanh toán tiền công nhưng ông Thắng -  bà Lương không đồng ý. Vì vậy, Ông Tiến cùng nhóm thợ đã ngừng thi công ngôi nhà. Thời gian này mặc dù sinh sống cùng bố mẹ nhưng do công việc nên chị Lê không tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện ngôi nhà. Vì vậy, chị Lê không có yêu cầu gì.
Người bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Ông Tiến thi công ngôi nhà của ông Thắng – bà Lương chưa hoàn thiện và không đúng hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng, một số hạng mục công trình gia đình ông Thắng phải thuê người khác hoàn thiện. Quá trình giải quyết vụ án thì ông Thắng đồng ý hiện đang nợ ông Tiến tiền công còn thiếu là 29.705.828đ. Tuy nhiên do ông Tiến vi phạm thời gian thi công đã thảo thuận nên đề nghị hội đồng xét xử khấu trừ đi của ông số tiền 6.000.000đ, chập nhận thanh toán cho ông Tiến số tiền 23.705.828đ (Hai mươi ba triệu, bảy trăm linh năm nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng). Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phạt lãi xuất của ông Tiến và buộc ông Tiến phi chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Ngoài ra, đề nghị miền tiền án phí DSST cho ông Vi Văn Thắng và bà Hà Thị Lương.
Những người làm chứng – Ông Lữ Văn Ngọ, ông Vi Văn Lưu, ông Lữ Văn Hùng và ông Lang Văn Toán trình bày: Vào thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2017, ông Ngọ - ông Lưu – ông Hùng và ông Toán có tham gia cùng với ông Tiến thi công ngôi nhà 02 tầng của ông Thắng – bà Lương tại bản Tà sỏi, xã Châu Hạnh, huyệ Quỳ Châu. Quá trình thi công do gia đình Ông Thắng có yêu cầu thay đổi một số nội dung thi công không đúng như nội dung thảo thuận với ông Tiến, vì vậy dẫn đến kéo dài thời gian thi công. Vào một ngày trong tháng 5 năm 2017, khi ông Tiến cùng thợ đến để thi công hòan thiện công trình thì gia đình ông Thắng đã ngăn cản và không cho ông Tiến và thợ làm việc tiếp. Vi vậy, ông Ngọ - ông Lưu – ông Hùng và ông Toán không tiến hành thi công ngôi nhà của ông Thắng – bà Lương cùng với ông Tiến nữa. Ông Tiến đã thanh toán đầy đủ tiền công cho ông Ngọ -ông Lưu – oong Hùng và ông toán.
Người làm chứng Ông Hoàn Ngọc Chính trình bày: vào thời gian thang 11/2018, ông Chính được ông Thắng thuê hoàn thiện công trình ngôi nhà 02 tầng của gia đình Ông Thắng -  bà Lương tại bản Tà Sỏi, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu. Ông Chính đã thi công hoàn thiện một số hạng mục công trình bao gồm : ốp gạch phía bên mặt tiền tầng 1 lên mái, ốp gạch toàn bộ mặt tiền tầng 2, ốp gạch hai trụ tầng 2, làm đường chỉ mái tầng 1 và tầng 2, hoàn thiện bậc thềm tầng 1, đắp hai đấu tường tầng 1 lên mái, xây lan can tầng 2, nút lỗ sàn tầng 1 và tầng 2, sơn hoàn thiện cả nhà. Sau khi thi công hoàn thiện thì gia đình Ông Thắng – bà Lương đã thanh toán cho ông Chính số tiền là 11.500.000đ.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Vạn Văn Tiến có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định và định giá tài sản đối với ngôi nhà và giá trị tiền công xây dựng ngôi nhà hai tầng của gia đình ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương. Tại Biên bản định giá tài sản lập vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 22/02/2019 thể hiện : tổng chi phí tiền công để xây dựng ngôi nhà hai tầng như hiện trạng theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập vào hồi 08 giờ 05 phút được tính với tổng số tiền là 63.345.000đ. Chí phí tiền công hạng mục mà ông Thắng đã thuê người làm sau khi ông Tiến tạm ngừng thi công là 1.779.000đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa : Trong quá trình giả quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 513, 519, 520,421 và khoản 2 Điều 468 BLDS. Buộc ông Thắng và bà Lương phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Tiến số tiền công còn thiếu và gốc và lãi suất với tổng số tiền từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ . Đề nghị buộc ông Thắng – bà Lương hoàn trả cho ông Tiến số tiền 6.000.000đ chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản mà ông Tiến đã nộp. Buộc ông Tiến và ông Thắng – bà Lương phải chịu án phí DSST theo quy định.
 


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
(1) Về thủ tục tố tụng:
(1.1) Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Hợp đồng xây dựng được lập giữa ông Vạn Văn Tiến và ông Vi Văn Thắng được lập vào ngày 18/02/2017 và các bên không thi công đúng như nội dung trong hợp đồng. Tuy nhiên , các bên thừa nhận có thỏa thuận thay đổi nội dung thi công và cùng đồng ý. Nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội , phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị thi hành đối với các bên. Từ đó có đủ căn cứ để xác định tranh chấp giữa ông Tiến và ông Thắng là “ Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” , vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 24, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS và điều 513 BLDS.
(1.2) Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa  hôm nay, ông Vạn Văn Tiến đã rút một phần yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 71 BLTTDS, cần chấp nhận yêu cầu này của ông Tiến.
(1.3) Về sự vắng mặt của đồng bị đơn –Ông Vi Văn Thắng , bà Hà Thị Lương và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan – Chị Vi Thị Lê: Quá trình giải quyết vụ án đã có đầy đủ lời khai của ông Vi Văn Thắng và bà Hà Thị Lương. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử , bà Lương đã đi làm ăn xa, không có thông tin, đại chỉ cụ thể và hiện nay không liên lạc được. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định. Đây là lần thứ Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Thắng – bà Lương vẫn vắng mặt. Ngoài ra, chị Lê không có yêu cầu phân tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản điều 227 và khoản 3 điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương và chị Vi Thị Lê.
(2) Về nội dung:
(2.1) Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, lời khai của các bên , biên bản hòa giải và diễm biến tại phiên tòa đã đủ cơ sở để kết luận: Ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương đang nợ ông Vi Văn Tiến chi phí xây dựng ngôi nhà hai tầng của ông Thắng bà Lương. Theo hợp đồng lập ngày 18/02/2017 thì giá trị mỗi mét vuông xây dựng được tính là 1.200.000đ. Tuy nhiên , quá trình giải quyết vụ án , do các bên không thỏa thuận được về giá trị tiền công xây dựng của công trình nên cần căn cứ vào khoản 2 điều 519 BLDS, sử dụng Biên bản định giá tài sản lập vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 22/02/2019 để tính tiền công xây dựng ngôi nhà hai tầng của ông THắng bà Lương . Quá trình thi công ngôi nhà, ông Tiến đã tạm ứng tiền công với số tiền 23.000.000đ, sau khi ông Tiến không thi công  tiếp thì ông Thắng – bà Lương đã thuê nhân công hoàn thiện với số tiền 1.779.000đ. Tại mục 20 và 21 của Bảng tổng hợp dự toán chi phí xây dựng lập ngày 22/02/2019 thể hiện việc lắp xà gỗ và lợp mái tôn vời tổng số tiền 942.000đ, đây là phần việc mà ông Tiến đã thừa nhận không tiến hành thi công , cần trừ vào tổng chi phí tiền công. Ông Tiến chấp nhận trừ chi phí tiền công mỗi m2 với số tiền 50.000đ tại các mục 7,14,19 và 30 theo Bảng tổng hợp dự toán chi phí xây dựng lập ngày 22/02/2019 với tổng số tiền ((12,76m2 + 15,15m2 + 3,1266m2 + 2,3712m2) × 50,000đ) = 1.670.390đ. Ngoài ra , do không thi công lát gạch nền tầng 1 nên ông Tiến chấp nhận trừ đi tiền công là (63.345.000đ – 23.000.000đ – 1.779.000đ – 942.000đ – 1.500.000đ) = 34.453.610đ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của ông Vặn Văn Tiến , buộc ông Vi Văn Thắng và bà Hà Thị Lương phải trả lại số tiền công đang thiếu cho ông Tiến.
(2.2) Về yêu cầu phạt hợp đồng giảm tiền dịch vụ: Khi tiến hành thi công công trình theo hợp đồng theo hợp đồng lập ngày 18/02/2017 thì phát hiện tường và móng tầng 1 bị lệch nên không thể thi công như nội dung thỏa thuận trong hợp đồng . Nên ông Vạn Văn Tiến và gia đình ông Thắng thỏa thuận thi công lại từ móng tầng 1 và tường bao tầng 1. Ngoài ra, quá trình thi công, gia đình ông Vi Văn Thắng yêu cầu ông Vạn Văn Tiến ốp gạch thay vì lăn sơn như thỏa thuận trong hợp đồng. Sau khi thay đổi nội dung thi công thì các bên không tiến hành làm hợp đồng mới thay thế. Các nội dung thi công ngôi nhà của ông Thắng – bà Lương không đúng như trong hợp đồng lập ngày 18/02/2017. Do đó, hợp đồng lập ngày 18/02/2017 không có giá trị và vô hiệu theo quy định tại điều 408 BLDS. Vì vậy, cần bác yêu cầu của ông Vi Văn Thắng – bà Hà thị Lương và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về việc phạt hợp đồng giảm tiền dịch vụ chi phí tiền công xây dựng.
(2.2) Về lãi xuất: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa , ôngVạn Văn Tiến xác định thời điểm tính lãi xuất từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2019 với lãi xuất là 1,66%/ tháng . Hội đồng xét xử xét thấy ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngoài nghĩa vụ phải trả số tiền công còn thiếu thì còn phải chịu lãi suất thoe quy định  và thời điểm tính lãi suất từ tháng 6/2017. Ông Vi văn Thắng – bà Hà Thị Lương không đồng ý với yêu cầu lãi suất của ông Vạn Văn Tiến . Vì vậy, cần căn cứ khoản 2 điều 468 BLDS, chấp nhận một phần yêu cầu của ông Tiến buộc ông Thắng – bà Lương phải chịu lãi suất với tỷ lệ 0,83%/ tháng đối với khoản nợ tiền công tính từ thời điểm tháng 6/2017 đến tháng 5/2019 với số tiền là (34.453.610đ × 0,83%/ tháng × 23 tháng) = 6.577.194đ
Tổng cộng, cần buộc ông Thắng phải thanh toán cho ông Tiến số tiền 41.030.804đ
(3) Về án phí, lệ phí:
(3.1) Án phí: cần buộc ông Vi Văn Thắng phải chịu án phí DSST thoe quy định của pháp luật. Buộc ông Vạn Văn Tiến phái chịu án phí DSST đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
(3.2) Lệ phí: Quá trình giả quyết vụ án, ông Vạn văn Tiến đã nạp tạm ứng chi phí đối với yêu cầu xem xét , thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 6.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án đã chi phí hết ( có bảng kê kèm theo hồ sơ vụ án ). Xét thấy, yêu cầu của ông Vạn Văn Tiến về việc buộc ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương thanh toán hợp đồng dịch vụ được chấp nhận. Vì Vậy, căn cứ khoản 1 điều 158 và khoản 1 điều 162 BLTTDS cần buộc ông Vi Văn Thắng – bà Hà Thị Lương phải hoàn trả cho ông Vạn Văn Tiến số tiền 6.000.000đ.
Vì các lẽ trên.




   
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khảon 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 , khoản 2 điều 71, điều 147 , khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 điều 468, điều 513 , khoản 3 điều 518, khoản 2 điều 519 và khoản 1 điều 520 của bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 320/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn , giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vạn Văn Tiến . Buộc ông Vi Văn Thắng và bà Hà Thị Lương có nghĩa vụ thanh toán cho ông Tiến số tiền công còn thiếu và lãi suất với tổng số tiền là 41.030.804đ.
- Buộc ông Vi Văn Thắng và bà Hà Thị Lương phải hoàn trả cho ông Vạn Văn Thắng số tiền 6.000.000đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ( đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án( đối với các khỏan tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong , tất cả các khoản tiền , hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án thoe mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6 , điều 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thựuc hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
2. về án phí :
- Buộc ông Vi Văn Thắng phải chịu 2.051.000đ
- Buộc ông Vạn Văn Tiến phải chịu 649.000đ tiền án phí DSST. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 1.800.000đ tiền tạm ứng án phí nộp theo biên lai thu tiền số 0000824 ngày 06/12/2018 của chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu , tỉnh Nghệ an. Trả lại cho ông Tiến số tiền 1.151.000đ.
3. Về quyền kháng cáo: ông Vạn Văn Tiến có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Vi Văn Thắng, bà Hà Thị Lương và chị Vi Thị Lê có quyền kháng cáo lên toàn án nhân tỉnh Nghệ an trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
















BẢN ÁN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ CHUNG CƯ

BÌNH LUẬN CỦA NHÓM SỐ 2_BẢN ÁN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ CHUNG CƯ
1. Bình luận về Hình thức:

- Lỗi chính tả: Trong bản án xuất hiện một số lỗi chính tả như: viết tắt không có giải thích, không hiểu rõ nội dung như chữ pH xuất hiện nhiều lần trong bản án

- Lỗi do đánh máy: không space giữa số tiền và chữ “đồng”, thiếu chữ: khách quan, nhưng thiếu chữ “quan”

- Lỗi font chữ: Không nhất quán 1 font chữ trong bản án

2. Bình luận về Nội dung, lập luận trình bày trong bản án:
- Nội dung nêu dẫn chứng về Quyết định của bản án sơ thẩm: “Thời gian chậm bàn giao được tính đến ngày xét xử sơ thẩm 28/11/2018 số tiền là 290.964.982 đồng”, không thể hiện chi tiết phép tính là bao nhiêu ngày, tiền phạt chậm mỗi ngày là bao nhiêu….
- Bản án có đoạn: “ Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án còn thể hiện: Quá trình thực hiện dự án có sự thay đổi quy định pháp luật về phòng cháy chữa cháy cũng một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến chậm tiến độ hoàn thiện công trình” hay “…bị thanh tra và có kết luận về việc vi phạm luật xây dựng và các vi phạm khác không thể hoàn thành công trình đúng tiến độ “dự kiến” . Suy ra, chi tiết này, Tòa thiếu lập luận là Căn cứ vào Biên bản Thanh tra nào, số bao nhiêu, ngày tháng nào….. Do đó, thiếu sự rõ rang, chi tiết trong lập luận

3. Bình luận về Quyết định của các phiên xử:
Đối với phiên xử sơ thẩm:
- Căn cứ thông tin trong bản án phúc thẩm thì trình tự, thủ tục của quá trình xét xử và tuyên án là không vi phạm bộ luật tố tụng dân sự.

- Tuy nhiên, phần nhận định về việc chấp nhận phạt vi phạm hợp đồng chưa có căn cứ pháp luật cũng như lý lẽ giải thích nên chưa có tính thuyết phục.
Đối với phiên xử phúc thẩm:
- Các nhận định của tòa căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng của các bên nên xét về mặt lý luận cũng có phần thuyết phục hơn.

4. Bình luận về tranh chấp trong Hợp đồng mua bán trong bản án:
Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà chung cư là tranh chấp giữa một bên là doanh nghiệp chuyên kinh doanh bất động sản và một bên là khách hàng mua bất động sản với nhu cầu để sử dụng.
Hợp đồng mua bán hoàn toàn do bên bán nhà là Công ty Mỹ Sơn soạn thảo và đưa ra cho khách hàng xem xét và trả lời, gần như quá trình đàm phản sửa đổi hợp đồng là không có. Theo quy định tại khoản 1 điều 407 có quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Như vậy, hợp đồng mua bán nhà chung cư này là một dạng hợp đồng theo mẫu. Ở đây tòa án cả 2 cấp không đưa ra nhận định này.
Theo ý kiến của nhóm thì khi nhận định hợp đồng mua bán căn hộ chung cư giữa Công ty Mỹ Sơn và khách hàng là vợ chồng ông H là hợp đồng mẫu thì quyết định của bản án phúc thẩm sẽ không còn phù hợp. Cụ thể:
Các đợt thanh toán giữa bên mua căn hộ và Cty Mỹ Sơn được quy định cụ thể, chia làm 06 đợt thanh toán. Trong đó, ông H đã thanh toán 05 đợt đầy đủ, đợt cuối cùng thanh toán được thỏa thuận “khi bàn giao căn hộ, dự kiến là Quý I/2016”. Ở đây, tòa án cả 2 cấp chưa nhận định cũng như giải thích rõ: khi bàn giao căn hộ thì thanh toán đợt 06 hay thanh toán đợt 06 rồi mới bàn giao căn hộ? Theo ý kiến của nhóm :”KHI” tức là hai hành động xảy ra song song nhau. Tức là Công ty Mỹ Sơn bàn  giao căn hộ cho ông H còn ông H thì thanh toán tiền cho Công ty Mỹ Sơn. Bên cạnh đó, như nhận định từ đầu, hợp đồng mua bán căn hộ là một hợp đồng mẫu nên theo quy định của khoản 2 điều 407 BLDS 2005: “Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”.  Ở đây, tôi nhận thấy áp dụng Khoản 2 điều 414 BLDS 2005: “Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước”. Nghĩa vụ xây dựng thi công để bàn giao căn hộ so với nghĩa vụ giao tiền thì sẽ thực hiện mất nhiều thời gian hơn nên Công ty Mỹ Sơn có nghĩa vụ xây dựng thi công để bàn giao căn hộ trước rồi ông H mới phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán phần tiền còn lại. Như vậy, ông H không vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại đợt thanh toán cuối cùng này.
(Theo điểm a khoản 2 điều 12 hợp đồng : ”Nếu Bên Mua đã thanh toán...... thì bên bán mới phải chịu phạt vi phạm”. Tại điểm này, tòa PT đã có nhận định cũng như có dẫn chiếu khoản 1 điều 414 BLDS 2005: “Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình.....”. Nhưng chính cái “....” mới là phần thiếu xót của tòa, khoản 1 điều 414 BLDS 2005 còn quy định “... trừ trường hợp quy định tại Điều 415 và Điều 417 của Bộ luật này”. Như đã nhận định bên trên, việc ông ..... chưa thực hiện nghĩa vụ của mình là do Cty... chưa thực hiện nghĩa vụ bàn giao căn hộ. Điều 417 BLDS 2005 quy định rõ: “Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Như vậy, Công ty Mỹ Sơn vẫn phải chịu phạt vi phạm là hợp lý, đúng quy định PL.)  
Bên cạnh đó, nhận định toàn PT việc BLDS 2005 không có quy định khái niệm về “quý” và cách tính thời hạn “quý” nhưng lại quên mất nguyên tắc quan trọng nhất của hợp đồng đó là sự thỏa thuận cũng như việc áp dụng điều 3 BLDS 2005: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”. Điều này được thể hiện rõ hơn tại khoản 1 điều 409 BLDS 2005 có quy định: “Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó”,  khoản 4 điều 409 BLDS 2005: “Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng”. Như vậy, việc dẫn chiếu bộ luật dân sự không quy định về khái niệm cà cáh tính thời hạn “quý” là chưa phù hợp, hoàn toàn bỏ qua ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng cũng như áp dụng tập quán, hiện tại khi giao dịch dân sự không ít người sử dụng định nghĩa “quý”, ngay cả trong các văn bản, công văn của các cơ quan có thẩm quyền cũng vẫn thường sử dụng “quý” như: “báo cáo kết quả làm việc của cơ quan ABC trong quý I”, “Bộ XYZ kết thúc quý III đã hoàn thành đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch của năm xxxx...” Khi nói đến kết hết “quý” thì mọi người đều có thể hiểu rằng là kết thúc ngày cuối cùng của tháng 3, 6, 9, 12 tương ứng với “quý I, quý II, quý III và quý 4”. Tuy nhiên, việc có áp dụng khái niệm “quý” hay không, không làm thay đổi việc nhận định thời hạn hoàn thành công trình chậm nhất là 31/12/2016 là phù hợp. Do khi thỏa thuận hợp đồng cả Công ty Mỹ Sơn và ông H đều không chắc chắn thời gian có thể bàn giao nhà là là “quý I” nên cả hai đã sử dụng từ “dự kiến”.
Theo thỏa thuận tại điểm c khoản 1 điều 5 hợp đồng được tòa án dẫn chiếu “nếu Bên  mua đã thanh toán tiền mua căn hộ theo tiến độ.......” là đúng. Tuy nhiên, vẫn với lý do đã nêu, đây là hợp đồng mẫu và Công ty Mỹ Sơn trong quan hệ này là “bên mạnh” nên tôi nghĩ áp dụng Khoản 3 điều 407 BLDS 2005: “Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Bên cạnh đó, Khoản 8 điều 409 BLDS 2005: “Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế” nên có một số điều khoản chưa rõ ràng thì phải giải thích theo hướng có lợi cho người mua.
Từ những nhận định trên thì việc tòa án sơ thẩm đồng ý với yêu cầu khởi kiện cũng như phạt Công ty Mỹ Sơn là phù hợp.
Ngoài ra, nhóm cũng nhận thấy Các chứng minh thực tế rằng bên Bán là Công ty Mỹ Sơn thực sự chậm tiến độ và khả năng việc chậm tiến độ này vẫn tiếp tục, cụ thể như sau:
1/ “Theo biên bản thỏa thuận Hợp đồng thì: “Năm hoàn thành xây dựng: năm 2016” và bên Bán bàn giao căn hộ cho bên Mua dự kiến vào Quý 1 năm 2016”, tuy nhiên đến tháng 10/2017, ông chưa được bàn giao căn hộ theo thỏa thuận tại hợp đồng”
 Dù thời gian “dự kiến là Quý 1 năm 2016” luật Dân sự không quy định về khái niệm “Quý” và cách tính thời hạn Quý và Hợp đồng có đề cập năm hoàn thành là năm 2016 thì được hiểu là các bên thỏa thuận là năm (cuối năm 2016) công trình sẽ hoàn thành, thì với thời gian trễ 180 ngày sau tức là ngày 30/06/2017 Công ty Mỹ Sơn đã phải bàn giao nhà, nhưng đến 10/2017 Công ty Mỹ Sơn vẫn không bàn giao được => dấu hiệu đầu tiên thể hiện khả năng thực hiện hợp đồng có thể bị vi phạm => không đạt được mục đích thỏa thuận.
2/ Ngày 10-7-2015, Thanh tra xây dựng Hà Nội lập biên bản vi phạm hành chính số 134/BB-VPHC đối với chủ đầu tư về hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung Giấy phép xây dựng được cấp và bị xử phạt hành chính 80 triệu đồng. Ngày 3-4-2017, Đội thanh tra xây dựng lập Biên bản vi phạm hành chính và ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm vì chủ đầu tư tiếp tục tổ chức thi công công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp sau khi có Biên bản vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng. Ngày 17-4-2017, UBND quận Thanh Xuân có tờ trình báo cáo UBND TP Hà Nội về đề xuất xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ đầu tư dự án, mức phạt 1,5 tỷ đồng.
 Cty liên tục bị phạt vi phạm vào năm 2015 và đến 04/2017, vẫn chưa khắc phục về lỗi xây dựng sai nội dung Giấy phép xây dựng, bị phạt và buộc ngừng thi công công trình => hành vi thể hiện Cty cố ý và không thiện chí trong việc khắc phục hậu quả => dẫn đến việc bàn giao căn hộ không đúng hạn theo thỏa thuận => không đạt được mục đích mà 2 bên đã thỏa thuận.
Do đó, chúng ta có thể thấy rằng, bên bán đang thiếu thiện chí và bên mua là kẻ yếu thế.





TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ HỢP ĐỒNG HỢP TÁC

BÀI LUẬN NHÓM 3
V/V TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ HỢP ĐỒNG HỢP TÁC
(Bản án số 123/2019/DS-PT ngày 05/7/2019)

Câu 1: Về làm rõ đặc thù của loại HĐ đang tranh chấp:

Căn cứ Khoản 1 và khoản 2 điều 504 BLDS 2015 định nghĩa về Hợp đồng hợp tác gồm:

• Là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân vê về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm; và

• Phải được lập thành văn bản.

Trường hợp ông Trần Phú L (“ông L”) góp vốn vào Công ty TNHH MTV MH (“Công ty MH”) do ông Trần Văn M (“ông M”) làm đại diện theo pháp luật và có giấy chứng nhận góp vốn cùng với điều kiện khi nào Công ty MH có lãi thì sẽ chia tiền lãi cho ông M cho thấy giữa ông L và M đã có sự thỏa thuận bằng văn bản về việc đóng góp tài sản để cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm – cụ thể là giấy chứng nhận góp vốn vào Công ty MH với điều kiện khi nào Công ty MH hoạt động có lãi thì sẽ chia cho ông L. Theo đó, có thể thấy thỏa thuận về góp vốn giữa ông L và Công ty MH là hợp đồng góp vốn theo quy định trên.


Câu 2: Phân tích Nội dung tranh chấp:

1. Diễn biến tranh chấp:

Ngày 11/11/2016 ông L có góp với với Công ty MH do ông M đại diện với số tiền 250.000.000 đồng, hai bên có làm giấy chứng nhận góp vốn có ký tên, đóng dấu của Công ty MH và thỏa thuận khi nào công ty MH hoạt động có lãi thì sẽ chia tiền lãi cho ông L.

Nhưng từ ngày góp vốn đến nay ông M không chia tiền lãi cho ông L cũng không cho biết về tình hình hoạt động của công ty.

Do đó, ông L yêu cầu Công ty MH do ông M đại diện theo pháp luật trả cho ông L số tiền 250.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

2. Nhận xét:

Như đã phân tích ở Câu 1, thỏa thuận góp vốn giữa ông L và Công ty MH được xem là Hợp đồng góp vốn (“Hợp đồng”) do thỏa mãn đủ điều kiện quy định tại Điều 504, BLDS 2015. Trên cơ sở đó, có thể thấy:

(i) việc ông L đồng ý góp 250.000.000 đồng vào Công ty MH được xem là nghĩa vụ của ông L trong Hợp đồng;

(ii) điều kiện về Công ty MH chia tiền lãi khi Công ty MH hoạt động có lời được xem là nghĩa vụ của Công ty MH trong Hợp đồng.


Tuy không có thông tin cụ thể hơn về nội dung của Hợp đồng (như quyền và nghĩa vụ các bên, trường hợp chấm dứt hợp đồng), căn cứ vào thông tin được cho, việc Công ty MH không chia tiền lãi cho ông M cho thấy khả năng vi phạm nghĩa vụ của Công ty MH trong Hợp đồng. Trên cơ sở đó, ông L cho rằng Công ty MH vi phạm Hợp đồng và yêu cầu trả lại khoản tiền góp vốn của mình.

Câu 3. Về Quan điểm của toà án xét xử:

(1):  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L

(2): Buộc công ty TNHH M H trả cho ông Phú L số tiền 250.000.000 đồng và đóng cả án phí dân sự theo quy định.

(3): Không chấp nhập kháng cáo của công ty TNHH MTV M H, giữ nguyên bản sơ thẩm số 195/2018/DS-ST.

Lưu ý: Các nhận định của nhóm được dựa trên giả định mọi thủ tục tố tụng dân sự đều được thực hiện đúng quy định pháp luật và nội dung bình luận của nhóm chỉ bao gồm Hợp đồng góp vốn và các vấn đề liên quan.

1. Về quan điểm Tòa án xét xử về việc xác định nội dung tranh chấp:

Như đã phân tích tại Câu 1 về việc xác định loại hợp đồng, nhóm đồng ý với qua điểm của Tòa về việc xác định thỏa thuận góp vốn giữa ông L và Công ty MH là hợp đồng hợp tác. Và tranh chấp liên quan đến hợp đồng này là việc Công ty MH vi phạm nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng.

2. Hướng giải quyết của Tòa sơ thẩm/ Phúc thẩm

Theo quyết định của Tòa án sơ thẩm, Công ty MH có nghĩa vụ trả ông L số tiền 250.000.000 đồng theo quy định tại Điều 428, BLDS 2015. Tòa Phúc thẩm cho rằng việc không thông báo tình hình hoạt động kinh doanh, không cung cấp báo cáo tài chính cũng như chia lợi nhuận, lợi tức từ hoạt động kinh doanh với ông L của Công ty MH là hành vi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận giữa cac bên. Do đó, Tòa Phúc thẩm đồng ý với Tòa sơ Thẩm về việc Công ty MH phải trả lại 250.000.000 đồng theo Điều 428, BLDS.


Điều 428, BLDS 2015 về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, theo đó, trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng và không phải bồi thường khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình, trừ các thỏa thuận phạt, bồi thường hay liên quan đến tranh chấp.

Điều 423.2, BLDS 2015 quy định Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.

Như đã nói, do không có nội dung Hợp đồng cụ thể, các điều khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của ông L và Công ty MH vẫn chưa xác định đầy đủ được. Mặc dù vậy, có thể thấy thỏa thuận góp vốn của ông L vào Công ty MH có mục đích chủ yếu là được chia lợi nhuận từ Công ty. Do đó, việc không chia lợi nhuận của Công ty MH cho ông L có khả năng khiến mục đích giao kết Hợp đồng không đạt được. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ông L đồng ý trong thỏa thuận rằng điều kiện để Công ty MH chia lợi nhuận là khi Công ty hoạt động có lời. Trong phạm vi thông tin được nêu, việc lời hoặc lỗ của Công ty MH không được thể hiện rõ. Do đó, kết luận của Tòa về Công ty MH vi phạm nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng mà không xem xét, đề cập đến điều kiện thực hiện của nghĩa vụ có khả năng chưa đầy đủ và chặt chẽ.

Tuy nhiên, do Công ty MH trên thực tế cũng không chứng minh được việc mình không thực hiện được nghĩa vụ do chưa đủ điều kiện đã thỏa thuận (hoạt động của công ty có lời). Công ty cũng không cung cấp (các) báo cáo tài chính hay có thông báo thể hiện tình trạng hoạt động của Công ty để xác định lời lỗ nên trong trường hợp này, có thể xem Công ty MH đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng với ông L.

Ngoài ra, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Do đó, trường hợp hợp đồng góp vốn giữa ông L và Công ty MH được tuyên là chấm dứt, ông L không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình là việc góp 250.000.000 đồng vào Công ty MH. Vì vậy, Công ty MH phải trả lại số tiền 250.000.000 cho ông L do vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ và Hợp đồng được tuyên chấm dứt là có cơ sở.

Câu 4. Ý kiến của nhóm

Nhìn chung, nhóm đồng ý với việc Tòa tuyên Công ty MH phải trả lại số tiền 250.000.000 đồng cho ông L. Tuy nhiên, nhóm có bổ sung một số vấn đề liên quan đến thỏa thuận góp vốn như sau:

1. Chưa làm rõ hình thức góp vốn giữa ông Phú L và công ty M H (Góp vốn vào công ty TNHH MTV và ký hợp đồng hợp tác kinh doanh) là như thế nào. Theo quy định tại khoản 13 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.”

2. Công ty TNHH MTV M H, nên việc ông Phú L góp vốn vào công ty là một hình thức huy động vốn vào công ty và làm thay đổi vốn điều lệ của công ty thì theo quy định để đảm bảo quyền lợi của ông Phú L, thì công ty M H phải tổ chức quản lý theo một trong hai loại hình là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần theo quy định tại khoản 2 và 3 điều 87 Luật DN về thanh đổi vốn điều lệ: “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tăng vốn điều lệ bằng việc chủ sở hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn góp của người khác. Chủ sở hữu quyết định hình thức tăng và mức tăng vốn điều lệ.
3. Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác, công ty phải tổ chức quản lý theo một trong hai loại hình sau đây:
a) Công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên và công ty phải thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thay đổi vốn điều lệ;
b) Công ty cổ phần theo quy định tại Điều 196 của Luật này."

- Dựa theo thoả thuận từ giấy chứng nhận góp vốn giữa ông M và công ty MTV M H thì công ty M H đã không thực hiện theo quy định pháp luật khi tăng vốn điều lệ cần chuyển đổi sang công ty TNHH 2 thành viên hoặc chuyển đổi sang công ty cổ phần.




VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN

NHÓM 7 :
BÌNH LUẬN
VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN

Ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 186/2016/TLST-DS ngày 23/6/2016, về việc: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2017/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 08 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2017/QĐ-HPT ngày 29/08/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà TH, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ 3, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà HA (Văn bản ủy quyền ngày 01/6/2016) (Có mặt)

2. Bị đơn:  Ông K, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số 29 đường S, Phường N, Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng công chứng D

Địa chỉ: 22 đường G, khu phố L, thị trấn Y, huyện C, Thành phố H

Người đại diện theo pháp luật ông TD – Trưởng Văn phòng công chứng TD (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là bà HA trình bày: Ngày 03/10/2015 bà TH có ký hợp đồng ủy quyền cho ông K được thay mặt bà TH quản lý, sử dụng, cho thuê, bảo lãnh, ký kết các Hợp đồng tín dụng, thế chấp, đăng ký thế chấp, giải chấp, thanh lý Hợp đồng cho thuê, Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, xóa đăng ký thế chấp, thực hiện thủ tục đáo hạn (nếu có), chuyển nhượng, tặng cho; hủy Hợp đồng chuyển nhượng, hủy Hợp đồng tặng cho (nếu có), nộp thuế thu nhập cá nhân cho bà TH khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất  đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 30, tại ấp V, xã L, huyện D tỉnh B, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho  bà Hương. Thời hạn ủy quyền là 05 năm, không có thù lao.

Bà TH đã giao cho ông K bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015. Sau khi ký hợp đồng bà TH không liên lạc được với ông K để thực hiện công việc ủy quyền. Bà TH đã gởi cho ông Kthông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền nhưng không thấy ông Ktrả lời. Bà TH khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền đã ký với ông Kvà yêu cầu ông K trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015.

Bị đơn ông K không đến Tòa nên không thu được lời khai cũng như không hòa giải được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng TD vắng mặt nhưng tại văn bản ngày 19/10/2015 xác định hợp đồng công chứng 2590 quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/10/2015 là đúng qui định của pháp luật, đúng trình tự, thủ tục và nguyên tắc nghề công chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn tuân thủ pháp luật  không vi phạm Tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

BÌNH LUẬN
- Về việc chấm dứt hợp đồng ủy quyền thì theo bộ luật dân sự 2005, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền là ý chí chủ quan của người ủy quyền mà không cần xem xét lý do, theo đó bên Ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt HĐ bất cứ lúc nào ,  nên khi ký hợp đồng bà TH không liên lạc được với ông K để thực hiện công việc ủy quyền. Bà TH đã gởi cho ông Kthông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền nhưng không thấy ông Ktrả lời. Bà TH khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền đã ký với ông Kvà yêu cầu ông K trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015.nên bà TH chỉ cần đơn phương chấm dứt HĐ ủy quyền với ông K mà không cần ông K có mặt.
- Ông K giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 30, tại ấp V, xã L, huyện D, tỉnh B nên có trách nhiệm phải trả lại cho bà TH ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu ông Kkhông trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà THthì bà THcó quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
- Về án phí thì theo quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp quản lý án phí và lệ phí tòa án, thì bà K không nằm trong đối tượng được miễn giảm toàn bộ án phí.