Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN

NHÓM 7 :
BÌNH LUẬN
VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN

Ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 186/2016/TLST-DS ngày 23/6/2016, về việc: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2017/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 08 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2017/QĐ-HPT ngày 29/08/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà TH, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ 3, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà HA (Văn bản ủy quyền ngày 01/6/2016) (Có mặt)

2. Bị đơn:  Ông K, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số 29 đường S, Phường N, Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng công chứng D

Địa chỉ: 22 đường G, khu phố L, thị trấn Y, huyện C, Thành phố H

Người đại diện theo pháp luật ông TD – Trưởng Văn phòng công chứng TD (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là bà HA trình bày: Ngày 03/10/2015 bà TH có ký hợp đồng ủy quyền cho ông K được thay mặt bà TH quản lý, sử dụng, cho thuê, bảo lãnh, ký kết các Hợp đồng tín dụng, thế chấp, đăng ký thế chấp, giải chấp, thanh lý Hợp đồng cho thuê, Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, xóa đăng ký thế chấp, thực hiện thủ tục đáo hạn (nếu có), chuyển nhượng, tặng cho; hủy Hợp đồng chuyển nhượng, hủy Hợp đồng tặng cho (nếu có), nộp thuế thu nhập cá nhân cho bà TH khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất  đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 30, tại ấp V, xã L, huyện D tỉnh B, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho  bà Hương. Thời hạn ủy quyền là 05 năm, không có thù lao.

Bà TH đã giao cho ông K bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015. Sau khi ký hợp đồng bà TH không liên lạc được với ông K để thực hiện công việc ủy quyền. Bà TH đã gởi cho ông Kthông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền nhưng không thấy ông Ktrả lời. Bà TH khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền đã ký với ông Kvà yêu cầu ông K trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015.

Bị đơn ông K không đến Tòa nên không thu được lời khai cũng như không hòa giải được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng TD vắng mặt nhưng tại văn bản ngày 19/10/2015 xác định hợp đồng công chứng 2590 quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/10/2015 là đúng qui định của pháp luật, đúng trình tự, thủ tục và nguyên tắc nghề công chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn tuân thủ pháp luật  không vi phạm Tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

BÌNH LUẬN
- Về việc chấm dứt hợp đồng ủy quyền thì theo bộ luật dân sự 2005, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền là ý chí chủ quan của người ủy quyền mà không cần xem xét lý do, theo đó bên Ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt HĐ bất cứ lúc nào ,  nên khi ký hợp đồng bà TH không liên lạc được với ông K để thực hiện công việc ủy quyền. Bà TH đã gởi cho ông Kthông báo về việc hủy hợp đồng ủy quyền nhưng không thấy ông Ktrả lời. Bà TH khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền đã ký với ông Kvà yêu cầu ông K trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 578482, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01359/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D tỉnh B cấp ngày 28/5/2008, đăng ký thay đổi ngày 25/7/2014 và 02/10/2015.nên bà TH chỉ cần đơn phương chấm dứt HĐ ủy quyền với ông K mà không cần ông K có mặt.
- Ông K giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 30, tại ấp V, xã L, huyện D, tỉnh B nên có trách nhiệm phải trả lại cho bà TH ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu ông Kkhông trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà THthì bà THcó quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
- Về án phí thì theo quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp quản lý án phí và lệ phí tòa án, thì bà K không nằm trong đối tượng được miễn giảm toàn bộ án phí.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét